Về cuộc nam chinh đại qui mô của nhà Tần, sách Tàu xưa chép khá rõ về các thời điểm quan trọng, ngoại trừ: năm -214 đặt ba quận, “phát những người bị đày đến cho ở lộn với người Việt trong 13 năm”, tức đến năm -201, nhưng Tần đã mất từ năm -206 rồi kia mà!

Quan trọng hơn nhiều đối với ta là giới hạn phía nam của chiến dịch. Thì sách lại hoàn toàn mơ hồ! Không thấy một lời nào có thể giúp ta biết là quân Tần bị kháng chiến làm khốn quẫn trên đất Tây Âu hay trên đất Âu Lạc. Đâu phải hễ đặt quận là nhất thiết đã bình định xong đất mới chiếm.

Sách Tàu kể chuyện này không nêu tên Thục Phán. Về phía ta, nếu Thục Phán đã đại thắng Tần, tại sao trong ký ức dân gian không có chút dấu vết nào của chiến công hết sức oanh liệt ấy? Mà lại có cái truyền thuyết Lý Ông Trọng về một cuộc đụng độ không xảy ra ?!

(Thu Tứ)



Phan Huy Lê, “Tần có đánh ta”



Năm 221 tr. CN, nước Tần (...) thâu tóm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc (...) Về mặt đối ngoại, nhà Tần đã mở những cuộc chiến tranh xâm lược đại qui mô (...) Về phía nam, kế tục và phát triển chủ trương “bình Bách Việt” của nước Sở trước đây (...)

Trong thư tịch cổ của Trung Quốc, tài liệu xưa nhất chép về cuộc chinh phục Bách Việt của quân Tần là một đoạn trong sách Hoài Nam Tử. Tác giả cuốn sách là Hoài Nam vương Lưu An được phong ở đất Hoài Nam năm 194 tr. CN và chết năm 122 tr. CN. Ðất Hoài Nam ở sát đất Bách Việt, Lưu An lại sống gần thời Tần Thủy Hoàng xâm lược Bách Việt (chỉ sau khoảng nửa thế kỷ) nên, về mặt tư liệu học, sự ghi chép của Hoài Nam Tử cũng có giá trị nhất. Sách Hoài Nam Tử viết: “(Nhà Tần) (...) sai úy Ðồ Thư phát 50 vạn binh, chia làm 5 đạo quân: một đóng ở đèo Ðàm Thành, một đạo đóng giữ ở ải Cửu Nghi, một đạo đóng ở Phiên Ngung, một đạo giữ miền Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dư Can. Trong ba năm, (quân Tần) không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương, để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Ðồ Thư. (Quân Tần) thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người. (Nhà Tần) bèn phát những người bị đày đến đóng giữ”.

Tài liệu quan trọng thứ hai là Sử ký của Tư Mã Thiên, viết xong vào khoảng đầu thế kỷ I tr. CN. Về cuộc xâm lược Bách Việt của quân Tần, sách Sử ký cũng chép tương tự như sách Hoài Nam Tử: “(Nhà Tần) sai úy (...) Ðồ Thư đem quân lâu thuyền xuống nam đánh đất Bách Việt, sai giám Lộc đào cừ chở lương để vào sâu đất Việt. Người Việt bỏ trốn. (Quân Tần) đánh giữ lâu ngày. Lương thực bị tuyệt và thiếu. Người Việt ra đánh. Quân Tần đại bại. (Nhà Tần) bèn sai úy Ðà đem binh đóng giữ đất Việt (...) tiến không được, thoái cũng không xong. Trong hơn 10 năm, đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta tự thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết trông nhau (...)” (...)

Theo Sử ký, cuộc chiến tranh xâm lược và tình trạng khốn quẫn của quân Tần ở đất Việt kéo dài “hơn mười năm”. Theo biên niên sử Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng chết năm 210 tr. CN, Tần Nhị Thế (...) ra lệnh bãi binh ở đất Việt vào năm 208 tr. CN. Vậy cuộc chiến tranh xâm lược của quân Tần có thể bắt đầu từ năm 218 tr. CN. Sử ký lại chép: “(Nhà Tần) đặt ba quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng, phát những người bị đày đến cho ở lộn với người Việt trong 13 năm”. Nhà Tần mất vào năm 206 tr. CN. Năm xuất quân 218 tr. CN cũng phù hợp với thời gian 13 năm trên (...) Cũng theo Sử ký, nhà Tần đặt ba quận vào năm 214 tr. CN. Mà theo Hoài Nam Tử, quân Tần phải dụng binh “trong ba năm”, phải đào cừ mở đường chuyển lương mới vào được đất Tây Âu và sau đó mới lập được ba quận trên đất mới chiếm. Vậy năm xuất quân chậm nhất là năm 217 tr. CN và thời điểm 218 tr. CN xác định trên cũng không có gì mâu thuẫn.

Từ những cứ liệu trên, có thể tạm xác định: nhà Tần phát binh bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Bách Việt vào năm 218 tr. CN. (...) Năm 214 tr. CN (...) quân Tần đã tiến vào lưu vực Tây Giang và về cơ bản đã chiếm được vùng này. Trên đà thắng lợi, lại có đường thủy vận lương thuận lợi, dĩ nhiên quân Tần không dừng lại ở đó. Từ Tây Giang, quân Tần có thể theo Tả Giang và sông Kỳ Cùng tiến vào vùng phía bắc và đông bắc nước ta. Người Tây Âu và người Lạc Việt đã đứng dậy chiến đấu chống quân xâm lược Tần. Sử sách không ghi chép về cuộc kháng chiến này, nhưng truyền thuyết Lý Ông Trọng phần nào phản ánh có cuộc đụng độ giữa nhà Tần và An Dương Vương. Lĩnh Nam chích quái chép truyện Lý Ông Trọng như sau: “Cuối đời Hùng Vương, ỏ huyện Từ Liêm, quận Giao Chỉ có người họ Lý tên Thân, sinh ra to lớn (...) tính hung hãn, hay giết người. Tội đáng chết, nhưng Hùng Vương tiếc không nỡ giết. Ðến thời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn đem binh sang đánh nước ta, An Dương Vương bèn đem Lý Thân cống cho Tần”.(1) Thục Phán vốn là một thủ lĩnh của người Tây Âu trên địa bàn phía bắc nước Văn Lang lúc bấy giờ gồm cả một phần nam Quảng Tây, mà trung tâm là vùng Cao Bằng. Sau khi (...) Dịch Hu Tống hi sinh, Thục Phán cùng nhiều thủ lĩnh người Tây Âu và Lạc Việt khác đã tiếp tục tổ chức cuộc chiến đấu chống quân Tần (...)

Cuộc chiến tranh xâm lược Bách Việt của nhà Tần kéo dài mười năm (218 đến 208 tr. CN). Nhiều nhóm người Việt đã tham gia cuộc kháng chiến chống Tần (...) Cuộc kháng chiến chống Tần của nhân dân ta đã giành được thắng lợi vẻ vang. Quân Tần đã bị (...) đánh bật ra khỏi nước ta và phải co lại giữ ba quận đã lập được ở phía bắc nước ta. Tham gia cuộc chiến đấu chống quân Tần có nhiều nhóm người Việt, nhưng chỉ có cuộc kháng chiến giữ nước của nhân dân ta giành được thắng lợi trọn vẹn. Thắng lợi oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Tần là chiến công mở đầu cho cuộc đấu tranh lâu dài của dân tộc ta chống lại họa xâm lược của các đế chế (...) phương Bắc.


(1) Thần tích “Ðức Thánh Chèm” hay “Từ Liêm huyện Lý Thiên vương sự tích” cũng chép tương tự (...)

(Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh,
Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Ðại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1983, tr. 186-197. Nhan đề phần trích tạm đặt.)