“Máy bay đầy trời (…) bom lủng lẳng rơi trên đầu (…) Pháo từ biển bắn vào dồn dập (…) mặt đất rùng rùng (…) B-52 (…) những vệt khói đáng sợ (…) khói bom đùn lên (…) trùm kín cả một khoảng trời”.

Tất nhiên là có rất nhiều thương vong. Nhưng trong cái không gian đầy ắp hình ảnh âm thanh cực kỳ bạo động ấy, vẫn có thơ. Và có những “o dân quân đầu đội mũ sắt, ngồi đàng hoàng trong bệ súng (cao xạ)”, không khiếp đảm, mà sẵn sàng đáp trả sắt lửa bằng sắt lửa. “Oai như gái Việt” là đây”!(1)

(Thu Tứ)

“Oai như gái Việt” là tên một bài viết của TT.



Nhật ký Hoàng Thượng Lân (10)




9-8-1968

Một ngày nóng nực, oi bức. Nắng chói chang. Máy bay quần nhiều, cắt bom ở một đỉnh đồi bên cạnh. Bom lủng lẳng rơi trên đầu, cứ tưởng như nó sẽ rơi trúng đầu.

Bắc Vĩnh Linh sáng nay đã cho một chiếc máy bay xuống “chầu đất”. Hai dù trắng tung ra, treo lơ lửng, xuống rất chậm. Đơn vị C1 được lệnh cùng dân quân Vĩnh Chấp tiến về phía hai chiếc dù đang bay.

Máy bay địch xuất hiện đầy trời, nhào lộn nhiều kiểu, rắc bom bi thành một thế hàng rào ngăn chặn (…) B-52 ra ba chiếc, bay về hướng Vĩnh Nam. Bom nổ rền (…)

10-8-1968

Gặp một thằng bạn vui tính, cởi mở. H. đưa cho mình xem tập thơ đầu tay. Mình rất thích và khen ngợi, động viên H. Mình chép lại hai bài (…)

MẮT ĐEN

Bữa nào mang giúp ba-lô
Bữa nay tải đồ, lại chính mắt đen!
Bần thần định nhận người quen
Giật mình sao chẳng nhớ tên o nào.

Con chim mách lẻo cành cao:
- Dân công hỏa tuyến, mắt nào chẳng đen!


TRĂNG

Đường về quê em đâu xa cho lắm
Mà vội hành quân anh chẳng được ghé qua
Đêm nhớ em, thường ngắm nhìn trăng sáng
Bỗng thương thầm, chú cuội gốc cây đa

Một đêm trăng qua, một đêm trăng lại
Mọc làm chi trăng ơi, cho nhớ mãi
Sợi trăng vàng sáng mượt tóc em yêu
Trăng thấy em rồi, bóng ngả mái đầu

Đêm nay rừng sâu, thầm mong trăng lặn
Trăng vẫn lung linh bên võng anh nằm
Em yêu ơi, đừng giận anh vội nhé!
Bởi thương nhiều, nên anh ghét ánh trăng

Mong trăng lặn đi, đêm thật tối
Để giúp anh giải phóng công đồn
Cho ngày mai, đêm trăng càng óng ả
Mái tóc thêm mềm, ánh mắt lung linh.


Chia tay H. trong một buổi chiều đẹp. Gió lộng (…)

11-8-1968

Đi Vĩnh Nam. Khởi hành giữa bóng đêm và bình minh, ngôi sao Hôm còn nhấp nháy…

Đến Vĩnh Long. Pháo từ biển bắn vào dồn dập, mảnh bay xẹt qua đầu, mặt đất rùng rùng, những quả đạn 230 ly nổ thật chát chúa.

Lâu chưa vào chiến trường, sức chịu đựng của thần kinh có phần giảm sút. Hôm nay nghe pháo nổ gần, tim đập tương đối mạnh!

Đến Nam Phú, gặp hai cáng thương binh từ phía nam ra. Một đồng chí bị nát cả cánh tay, ga-rô không chặt, máu rỉ chảy thấm ướt võng, rỏ từng giọt xuống đường. Đồng chí kia nhẹ hơn – bị vào chân – còn tỉnh táo ngậm thuốc lá. Mình xúc động vô cùng, rảo bước theo cáng, trìu mến hỏi:

- Bị hôm qua à?

- Ừ!

- Có phải đoàn 312 không?

- Phải.

- Đánh ở đâu ra đấy?

- Ở đồi 31 và Nhị Trung.

- Nó chiếm được xóm Hợp rồi à?

- Không! Nó càn ra hai tiểu đoàn. Bọn tôi cầm cự suốt từ sáng đến tối mịt. Chúng bị bắn rụng hai trực thăng, cháy năm xe tăng. Bọn bộ binh Mỹ chết nhiều.

- Anh bị thương vì đạn gì?

- Đạn trực thăng bắn xuống.

- Còn anh kia?

- Không biết. Không phải ở đơn vị tôi. Khỏi sông một đoạn, anh ấy chết, người ta hô hấp cho sống lại đấy!

Từ giã đồng chí thương binh, mình tần ngần đứng nhìn theo cho đến khi cáng khuất hẳn. Lòng dạ xốn xang biết bao kỷ niệm những ngày sống chiến đấu ở đồi 31, xóm Hợp, Nhĩ Trung… (…)

Sáng, máy bay B-52 ra, từ hướng đông kéo vào, kéo dài những vệt khói đáng sợ. Khói bom đùn lên, không còn hình thù cái nấm vì bom xuống quá nhiều. Nổ dữ dội ở mạn Vĩnh Thủy hay Vĩnh Lâm gì đó.

Chiều, về tới nhà. Chẳng thấy máy bay đâu cả, tự nhiên nghe tiếng bom rơi. Theo phản xạ, mình lăn xuống một thửa ruộng gần đấy. Khi biết chắc B-52 không oanh tạc chỗ này, mình lồm cồm bò dậy. Một bác nông dân nằm gần đó chửi đổng:

- Tiết mẹ nó! Tên lửa đâu không cho nó một phát! Bắt được mấy thằng lái, đem mà xẻo “đốc”!

12-8-1968

Mưa. Trước mưa vài tiếng, một loạt bom bi quẳng đúng nhà bác Đoan. Nhà cháy trụi. Chị Đoan con lớn của bác bị thương nhẹ ở tay. Hai con lợn chết cháy trong chuồng. Bác gái khóc thút thít, thương con, tiếc của (…)

Mình đưa cho bác mấy chục đồng bạc, “đỡ đầu” hộ một con lợn chết. Chiều nay anh em sẽ có một bữa thịt tươi!

Sáng, máy bay ra nhiều. Cắm sát xuống đất, phóng rốc-két cách nơi bọn mình đóng không đầy 50 mét. Tổ trung liên của B2 trực ngoài ruộng nhả đạn. Mình cũng quẳng bút xuống bàn, vớ súng, nép vào vách tường kéo một loạt đạn dài. Tay bị mất ngón cái nên ghì không chặt, cứ nảy rời ra khỏi cán cầm.

Pháo ở Cồn Tiên bắn dồn dập vào nơi vừa bị L-19 thả lựu đạn khói đánh dấu. Đơn vị 12 ly 7 ở đấy đã di chuyển rồi. Pháo phòng không bên Vĩnh Tú nhằm một chiếc máy bay trinh sát đó bắn mạnh, nhưng không trúng. Đạn nổ lụp bụp quanh nó (…)

17-8-1968

B-52 lại ra, thả xuống tây Trường Sơn và ven đường quốc lộ số 1. Bom nổ đều, rung chuyển. Khói trùm kín cả một khoảng trời. Mình không tài nào chui được vào hầm. Người cứ lắc bên này sang bên nọ, tay không bấu vào đâu được. Tai bị ù đi và khó thở (…)

Chiều qua mình đi tiểu đoàn nhận lương và phụ cấp. Dọc đường gặp đơn vị 12 ly 7 của dân quân Vĩnh Chấp đang phục (…) Trông thấy các o dân quân, đầu đội mũ sắt, ngồi đàng hoàng trong bệ súng, căng thẳng trong không khí chờ đợi. Mình thích và vô cùng cảm phục những người con gái Vĩnh Linh này.