Nguyễn Văn Hầu, “Ông Bảy Do”




Ðường trèo của núi Cấm theo ngả Rầy Ðét khi khỏi dốc Ðá Chài một quãng, có ngả rẽ sang phải là đường về chùa Phật Lớn (…) Chùa đã đổ nát không còn gì (…) Một cụ già mặc áo đen ở trong am gần đó, nghe tiếng động ra đón chúng tôi (…)

- Có. Tôi là môn hạ của đạo sĩ Bảy Do, chưởng giáo Nam Cực Ðường. Vì nhớ thầy, thương đạo, tôi ở tu nơi này để gìn giữ vết tích xưa.

- Nam Cực Ðường là gì, thưa cụ?

- Là tên của ngôi chùa này và cũng chính là bản doanh của Nghĩa đảng.

- Nghĩa đảng? Cụ Bảy Do cũng là một nhân vật cách mạng nương bóng Phật Ðà?

- Dạ.

- Cụ có thể vui lòng cho chúng tôi biết về mọi hoạt động của Nam Cực Ðường ngày trước?

- Ðược. Mời các ông tạm ngồi xuống thềm đá đây, tôi sẽ nhắc qua chuyện cũ cho các ông nghe.

Ðoạn cụ trầm giọng, buồn buồn:

- Hồi đó, năm 1908, tôi là một giáo viên nặng lòng trách nhiệm, bỏ sở theo phong trào Ðông Du của cụ Phan Bội Châu. Tôi chưa kịp xuất dương sang Nhật thì bể tiếng, phải bỏ trốn. Tôi từ Mỹ Tho chạy về miền Thất Sơn. Bấy giờ ông Bảy Do vẫn còn sinh sống ở nguyên quán tại làng An Hội, tỉnh Bến Tre. Ông vốn là học trò cháu của Thủ khoa Bùi hữu Nghĩa. Bởi ông cha đều tử trận trong các cuộc kháng Pháp, cho nên ông ngoài đường học văn, còn cố công luyện võ để chờ dịp phục thù.

Năm 1911, người ta thấy xuất hiện tại sườn núi Cấm này một thảo am với một đạo sĩ lực lưỡng, mình khoác áo tràng đen chân giẫm đất, đầu búi tóc, ngày hai buổi ngồi thiền nhưng đêm đêm vẫn mài gươm dưới nguyệt. Người nào tò mò dọ hỏi lắm mới biết đó là đạo sĩ Nguyễn Văn Do, thứ bảy, nên tục gọi Bảy Do (…) từ phương xa người ta kéo về qui phục rất đông (…) Ông Bảy dựng lên một ngôi chùa lớn, lấy tên là Nam Cực Ðường (…) hằng ngàn đệ tử (…) thành tổng hành dinh của một cơ quan chống Pháp.

Pháp thả mật thám giả làm bổn đạo để dò xét. Tông tích bại lộ. Trong năm 1917, chúng đem quân vào vây Nam Cực Ðường, tức ngôi chùa mà bây giờ chỉ còn cái nền trước mặt các ông đây (…) Ông Bảy bị bắt sống (…) đưa về giam tại khám lớn Sài Gòn và bị kêu án năm năm cấm cố. Sau đó, bị phát vãng Côn Lôn. Ông Bảy đã cắn lưỡi tử tiết trong đề lao trên hải đảo vào ngày rằm tháng 3 năm Bính Dần (1926), lúc đó mới 45 tuổi.

Nói đến đây, sắc mặt cụ già đượm một vẻ buồn. Cụ tiếp:

- Những người trước tôi đã chết, đời tôi cũng coi như đã hết, vậy mà quân thù vẫn còn đầy dẫy trên đất nước ta. Các ông còn trẻ, sứ mạng của các ông là phải tiếp tục cho đến cùng những công việc của tiền nhân!

Chúng tôi thảy đều lặng thinh, ngầm ý tán thành lời nói phải.


(Nguyễn Văn Hầu,
Nửa tháng trong miền Thất Sơn. Nhan đề phần trích tạm đặt. Chỗ in đỏ đậm do người trích.)