Thu Tứ, “Nguyễn Tuân - Bút ký kháng chiến” (1)




Từ khi vào Khu Năm thăm bộ đội đánh Pháp, Nguyễn Tuân hoàn toàn dứt khoát về việc theo hay không theo cộng sản. “Với tâm hồn thanh thản, hào hứng”(1), Nguyễn lên đường kháng chiến cùng dân tộc. Nguyễn sẽ đi say sưa cho đến tận cái ngày “trùng trùng quân đi như sóng, lớp lớp đoàn quân tiến về” lấy lại Thủ đô từ tay giặc... Qua hẳn rồi cái thời một người sống với những “vang (và) bóng” của “một thời” tàn, với nỗi “chán đời, tức đời”(2) mà bao nhiêu đêm hát cô đầu, bao nhiêu lượt chong đèn dầu lạc, bao nhiêu chuyến đi vì đi cũng không giữ được cho khỏi lên tới mức khủng hoảng... Người ấy bây giờ sống vui với những tiếng và hình của hiện tại, với thực tế đời sống nhân dân và với những chuyến đi tuy không còn bằng xe tàu gì nữa nhưng lại vô cùng lôi cuốn vì là đi để chứng kiến và góp phần vào việc phục hồi danh dự, mang lại vinh quang cho Tổ quốc thân yêu. Con tài nay trở thành con hiếu nữa, Mẹ Việt Nam dù đang muôn vàn vất vả hẳn cũng mỉm cười...

Khu Năm, 1946

“1946, trước ngày Toàn quốc Kháng chiến một tháng. Ở Khu Năm. Núi Buôn Ma Thiêng. Ổ tác chiến ấy là một lườn núi. Giường nằm là những sàn kết bằng cành tươi ken lại cách mặt đất tám tấc. Ban ngày ở đây ngắn lắm. Khoảng chín mười giờ sáng mà sương mù chưa hết. Cảnh vật màu bàng bạc như trăng suông. Mười lăm, mười sáu giờ đã hết ngày. Buổi chiều ập xuống. Buổi tối lại đến nhanh hơn buổi chiều, phớt cả hoàng hôn. Mưa núi đêm dài đánh giọt giờ trên mái tranh. Sàn cây tươi rung lên vì cơn sốt của một số đội viên. Ánh sáng mai mái đẩy lần cây cỏ lại phía ổ. Bình minh rụt rè về. Tia sáng run lẩy bẩy như cũng vừa tỉnh một trận sốt cách nhật. Chúng tôi lần ra bên suối. Cái nón sắt lấy của địch dùng được nhiều việc thật. Làm thau rửa mặt, ấm đun nước, làm xanh chảo xào rau. Bữa cơm sáng ăn với mắm ruốc và củ mài xào với lá tàu bay. Rồi đi thăm phòng tuyến. Giao thông hào ngoằn ngoèo trên một cây số (…) Một đồng chí tình báo vừa đi công tác về, quẩy một bó nứa, đeo một túm ngô. Những mẩu chuyện đánh giặc kèm ngô nướng và vui đùa. Tin yêu và giản dị (…) Cờ màu đỏ, phơ phất trong thành phố không đẹp bằng bay tung nơi đồng nội, in cái đỏ gắt ấy xuống nền lá mạ ruộng cấy hoặc vào nền lũy tre xanh già. Cờ đỏ cắm ở mũi đò biểu tình, hàng trăm chiếc chụm đầu lại chỗ bến Thương Bạc cũ, soi bóng hồng xuống dòng nước xanh Hương Giang, thế mà còn thua cờ đỏ cắm trên bành voi ở trong rừng Bình Định. Trên con đường số 19 nối với Tây Nguyên, voi đi tiếp tế bộ đội, ba bốn con nối đuôi nhau (…) lừ lừ như tàu thủy (…) Bến Định Quang (…) Những con đường mòn dẫn vào Suối Sen (…) Đồng lúa chín không bóng người gặt (…) Chạng vạng tối (đồng bào) mới lần về mà gặt vội (…) Lần đầu tiên tôi được biết đến cảm xúc tham gia chiến đấu (…) Năm sáu anh em bộ đội đeo súng và lựu đạn cùng tôi nhanh bước về phía dốc Mun (…) Nách lối tắt, chồm ra một cụ già run sợ hoảng hốt. Cụ ra hiệu là có Pháp đang đi gần đây. Bộ đội (…) đứng lại (…) sửa soạn. Tôi còn đang lúng túng trong ý nghĩ, thì anh chính trị viên điềm đạm bảo một người đưa tôi một trái lựu đạn. Lần đầu tiên trong đời tôi, tôi cầm quả lựu đạn. Máy móc quả nổ, tôi chưa biết tí gì. Chờ đợi (…) lâu quá, bộ đội đứng dậy đi tiếp, thản nhiên (...) Đến chân dốc Mun. Dốc nặng quá, dựng như vách thành. Đến Eo Gió. Đông người đang gài bom, chôn địa lôi, và đắp thêm ụ súng. Bộ đội chờ địch (...) gọi bom là heo, là cá thu. Có những con cá thu nặng năm mươi cân, mình xanh biếc, lủng lẳng trong bụi cao (…) Núi Lá đang trổ hoa xương rồng. Sông Đà Rằng, mặt nước nhấp nhô những bụi rù rì (…) Cảnh sống chỗ Đồng Cam phảng phất một mùi trung cổ. Xe vận tải hai bò kéo. Cày ngoài ruộng cũng mắc hai bò. Chiếc cộ bánh đặc, đẽo bằng gỗ cà-tê (…) Cái cối giã gạo khoét trũng vào gỗ cây (…) Cảnh ở đây buồn rộng quá, nếu không có lớp Bình Dân tối đến đỏ đèn dầu ma-dút trong một nếp nhà tranh bên đường cái. Mình hết sợ bệnh tật của rừng thiêng, hết nghi ngờ bóng tối của vòm lá ngàn. Và lại tin tưởng vào thâm sơn bí hiểm nữa, khi ở đây có vang lên cái tiếng lớp học đánh vần tiếng Việt Nam yêu quý”.(A) Làm sao mà năm 1946 Nguyễn Tuân lại ở núi Buôn Ma Thiêng, trong một cái “ổ tác chiến”, nằm ngủ trên “sàn kết bằng cành tươi (…) rung lên vì cơn sốt của một số đội viên”? Thì do “Cuộc Nam tiến (…) Hội Văn hóa Cứu quốc tổ chức cho nhiều văn nghệ sĩ theo bộ đội vào mặt trận phía nam”.(3) Cụ thể hơn, là theo lời đề nghị của Tố Hữu: “... đến những vùng có chiến sự xem đồng bào và bộ đội mình chiến đấu như thế nào, tôi nghĩ rất nên”.(4) Chiến trường Khu Năm có những nét riêng, bắt đầu với công tác hậu cần: “Trên con đường số 19 nối với Tây Nguyên, voi đi tiếp tế bộ đội (...) nối đuôi nhau (...) đi lừ lừ như tàu thủy”. Vào đến hẳn khu vực xảy ra chiến đấu thì Nguyễn được thấy tận mắt một vật tên nghe đã lâu, “tiếng” cũng đã quen (khi máy bay Mỹ đánh Hà Nội hồi Nhật còn chiếm). Ở đây nó mang tên mới ngộ nghĩnh “là heo, là cá thu”. Nguyễn trông “cá thu (...) năm mươi cân, mình xanh biếc, lủng lẳng trong bụi cao”, bỡ ngỡ đành, mà khi được trao tận tay thứ vũ khí hiện đại “bình dân” nhất, cũng không khỏi hồi hộp: “Lần đầu tiên trong đời tôi, tôi cầm quả lựu đạn. Máy móc quả nổ, tôi chưa biết tí gì”. May thứ quả ấy không có bao nhiêu máy móc và lần ấy Nguyễn không cần phải sử dụng!... Những chuyến đi thực tế đã có giá trị cải tạo thật mạnh mẽ: “Mình hết sợ (...) rừng (...) hết nghi (...) lá (...) Và lại tin tưởng vào thâm sơn bí hiểm nữa, khi (nghe) vang lên cái tiếng (...) đánh vần tiếng Việt (...)”. Có điều này nữa cũng hay, là qua đoạn văn mở đầu ta thấy con người Nguyễn tuy mới rồi nhưng vẫn còn cảm tinh tế và diễn cảm đẹp đẽ y như cũ.

Sau đêm 19 tháng 12

“Người thủ đô chan hòa đồng quê (...) Dưới dòng sông Nhuệ, mui đò ngang đò dọc phủ lá kín. Trên mọi ngả đường, bao nhiêu xe cũng đều phủ lá phủ cành xanh. Nhiều trẻ em, trông những cây lưu động ấy (...) thích lắm (...) Tôi muốn ôm các em vào lòng mà thủ thỉ: “Rồi đây (...) Các em, rất có thể (...) sẽ (...) mất cha mẹ, anh em, nhưng (...) sẽ được trưởng thành trong Độc lập của dân tộc”. Trăng tháng chạp trong sáng như trăng đêm hè (...) Trời hãy đừng đẹp như thế này nữa, hãy u ám đi và mưa phùn nhiều vào. Đấy là kinh cầu nguyện đêm nay của tự vệ sao vuông và du kích (...) Lũ lượt gồng gánh, những khối đen đặc (...) trườn vào tận trong lòng nội thành. Các anh ấy cầm xẻng, cuốc, các chị ấy gánh cơm nắm nước lọ (đi làm) công tác phá hoại (...) Đường các khu phố nội thành bừa bộn cuội, đá, đất, quện với nhựa đường nát, đánh đống từng dãy. Những chân cột đèn gục xuống (…) cột đèn, điện thoại bắt tay nhau qua lòng phố vắng. Đường sắt tàu điện bị bóc từng đoạn dài, đầu sắt bị quật ngỏng lên như đầu rắn. Nhiều dây thép tam cố to như thừng bện (…) quấn lấy gạch lề phố, ngang nhiên như dây leo trong rừng thẳm. Mặt phố kín bưng (...) Những cái nhà bịt cửa ấy, trổ một con mắt đầy bột gạch mà nhìn ra phố vắng. Góc phố, đầu vẹo phố là mục tiêu của đường đạn, ít nơi còn được nguyên vẹn. Hồi tường ở đây chằng chịt lỗ chỗ như mặt người lên đậu hoa. Ụ đất và chướng lũy nhiều và cao. Cái nào trông cũng nâu nâu lù lù như cổng Ô Quan Chưởng. Đi từ khu phố này qua khu phố khác, giờ chúng ta lại không cần đến đường cái ngoài trời. Chỉ cứ khom mình chui các lỗ tường đục, luồn qua mọi căn nhà”.(B) Bài ký này viết ngày 3 tháng 1 năm 1947 (12 tháng Chạp năm Bính Tuất). Toàn quốc kháng chiến bắt đầu mới được hai tuần, còn sáu tuần nữa trung đoàn Thủ Đô mới rút qua bên kia sông Hồng. Viết ở Hà Nội. Nguyễn Tuân vẫn còn... Phải thế chứ. Cái con người đã lớn lên nơi phố cổ, đi hát cô đầu ở Khâm Thiên không biết bao nhiêu chầu, đi chong không biết bao nhiêu đèn dầu lạc trong các tiệm hút Hà thành, đi ngồi rượu, cà-phê đến thủng cả đệm ghế nhà hàng Thủy Tạ, đi bộ lang thang đến mòn cả những vỉa hè sẽ vào tranh Phái..., con người ấy mà không nấn ná để thấy Hà Nội kháng chiến như thế nào thì rồi phải lấy làm tiếc cho mình biết đến chừng nào. Sắp tới Tết. Đâu đó chiến sự vừa tạm ngưng. Một người thủ đô đứng đối mặt mình với “mặt phố kín bưng”, đối mắt mình với “con mắt (mới trổ) đầy bột gạch” của “những cái nhà bịt cửa”, lang thang giữa “bừa bộn cuội, đá, đất, quện với nhựa đường nát, đánh đống từng dãy”, “khom mình chui các lỗ tường đục, luồn qua mọi căn nhà”... Nguyễn đã sẵn sàng lên đường.

Gió Lào

“Vinh (...) hai chữ tiêu thổ (...) Phải đứng hẳn lên đống vụn của vữa hồ khô ngào với ngói gạch sắt gỗ lim ngổn ngang trên một diện tích mười mấy cây số vuông đây, mới thấu rõ được đến chỗ đáo để của cái danh từ (…) Đoàn chúng tôi (...) một phần ba đoàn viên nếu không run bắn lên vì sốt rét thì cũng lả ra vì gió Lào. Tháng tư âm lịch, gió Lào đêm ngày nối tiếp kêu gào như động vật bị cắt họng. Có lúc gió rống lên như đàn chó già sủa bóng (...) Gió cứ một điệu ù ù thổi từ đất ra biển (...) nóng hơn cả nắng (...) Đất ùn chướng lũy, uất lên với nhiệt độ gió Lào, mất dần từng chút sinh ướt mịn nhuyễn (...) Trên gạch nung, rêu chết dần (...) hoang tàn nhớn nở mãi lên. Bụi cát không tích tắc nào nghỉ bay (...) trời đất quấy tro nóng (...) Khí trời ong óng, khí người ráo kiệt (...) Tôi quăng hết quần áo, nằm đờ trên đất. Chập chờn, gió Lào thổi cả vào giấc mộng khô ướt đã mấy lần mồ hôi. Tôi chồm đứng dậy, muốn phá trùng vây của lưới lửa. Gió phả cát rang vào khắp da tôi (...) ùa thốc cả một khối lửa lên lưng lên mặt và dội vào gáy. Tôi muốn ôm lấy đầu tôi, nhưng lớp tóc dài khô cứng chớm dựng như bàn chải lông thép đặt ngửa (...) Ý niệm của tôi về thiên đường lúc này là một lỗ giếng đào. Tôi chạy vụt sang cái giếng láng giềng, cả người chỉ còn một mảnh khố (...) Tôi múc nhanh gầu nước. Nhưng gầu nào cũng có kiến. Kiến trốn nắng, đào tổ tìm mát trong lòng đất, đã đi nhầm vào dòng mạch nước ngầm và lềnh bềnh ứa trôi ra kẽ hốc giếng đào. Chạy sang cái giếng khác thì nước vàng sặc tanh một mùi gỉ sắt chảy theo mép gầu, nước chát xít một vị nhựa cây. Tôi chạy về nhà, chưa chi mà khố đã ráo, tóc lại bợp như bàn chải. Một vài anh em đang trùm chăn lên cơn cách nhật. Thấy người nằm run dưới lớp chăn đắp, tôi cũng muốn bệnh cũ trong người tái phát lại (...) Tầu bay ù ù trên đầu. Trống báo động nhen thêm bầu khí nực (...) Bên trường Quốc học chỉ còn có móng chân tường, hoa phượng (...) đang nhỏ nhiều giọt huyết. Cái chói gắt của bầu khí lam trong nỏ làm bật nẩy lên cái tươi gắt của cánh phượng tuôn chảy (...) Lam gắt và hồng rực bổ túc lẫn cho nhau trong chói lòa (...) Cánh phượng chưa lìa hẳn cành mẹ mà đã khô rồi. Gió Lào gạt những son khô quắt vào bên lối nhựa, vào góc sân bộn (...) Không rõ từ đâu hiện ra cánh bướm (...) cả đàn lấp lánh bóng loáng giống hệt những mảnh đuy-ra phi cơ. Đàn bướm dò dẫm đặt chân lên lưng gió Lào. Nhưng gió trơn và lấn mạnh quá, đàn bướm trắng liền nhào vào một toa xe lửa chỉ còn vẻn vẹn có khung hoa sắt nằm tênh hênh bên đống đá trước kia thuộc đường thiết lộ. Toa xe giống hệt một cái nhà táng lớn khung nan bằng loại kim chưa phất giấy mã. Không, cái toa hỏng ấy là một con cá nhà táng, ai đã khéo gỡ hết thịt, cả bộ xương còn lại không gẫy lệch một cái nào. Đàn bướm trắng luồn uốn trong bụng cá nhấp nhánh mở khép như ma trơi giữa ban ngày thăm thẳm gió nắng. Hội bướm đã bị gió Lào đốt chết gần hết. Cứ bay như thế mà chết khô dần. Rụng từ giữa trời xuống nền đá củ đậu đường xe lửa. Hình như ai giận dữ gì đem xé ngấu nghiến một tấm thư giấy trắng nào mà ném vứt ra bấy nhiêu mảnh nhỏ vụn rải rác. Cánh bướm bệch nằm thở trên cánh phượng tía nẫu (...) Gió Lào về chiều, về tối càng thổi thốc lửa lên những ngôi sao đúng hẹn. Tôi thiêm thiếp lấy từng súc vải ka-ki bài trí làm gối kê đầu nặng (...) cứ thế này (...) thì (đoàn kịch) đến nghỉ lưu động mất”.(C) Gió Lào làm xác “tôi” khô, “khí người ráo kiệt”, nhưng chẳng mảy may giảm độ ẩm của tâm hồn “tôi”. Bất kể đang “chạy vụt” đi tắm giếng, hay tắm xong chạy về, hay thơ thẩn bên trường Quốc học, nhà ga, hay “đi sâu mãi vào khu phố (đã thành) đống vụn của vữa hồ khô ngào với ngói gạch sắt gỗ”, hay “nằm đờ trên đất”, “thiêm thiếp” trên gối , lúc nào “tôi” cũng vẫn cảm mọi thứ xung quanh cực kỳ tinh tế y như thường. Ờ, mà gió Lào dữ dội thổi khô hết thảy mọi vật ẩm, sao lại còn để cho cái thứ chất lỏng đen sánh kia cứ chảy đều từ ruột bút của một người ra nhỉ? Chắc là muốn được người ấy truyền thần chân dung mình. Trên bức tranh lời vẽ gió, nổi bật lên là những “cánh phượng tuôn chảy (rồi hóa thành) son khô quắt” và nhất là cái “toa xe lửa (...) cá nhà táng” với “đàn bướm trắng (...) ma trơi”. Cảnh thật mà kỳ ảo như trong mơ!

Tháp Rùa giữa rừng

“Ở một góc dãy núi chiến khu Một, chúng tôi đã gặp Trung đoàn Thủ đô (…) những ngày thi (…) bắn súng, thi ném lựu đạn, thi xung phong, thi cấp tốc hành quân, thi chuyển công văn hỏa tốc. Xạ trường nhấp nhô những biển cót. “Xiết chặt súng, bình tĩnh bóp cò”, “Đừng bắn ẩu” (…) Dân chúng đến đông nhất là buổi tập trận có súng lớn trợ chiến. Tiếng moóc-chi-ê nổ vang sườn núi (…) Tiếng đại liên nghe đều từng đợt. Mùi thuốc súng cay như mù-tạt (…) Lúc thử mìn điện, ba-dô-ca và đạn A.T. thì dân chúng thích quá (...) Xong mỗi lần thử, dân chúng đều chạy ra tận chỗ tảng đá chịu đạn kia mà rờ mó trầm trồ. Cái mục tiêu tự nhiên ấy đã nồng lên mùi vôi nung lò. Có những miếng vỡ ải ra như bột cám. Cái bánh sắt ô-tô cạnh đấy bị sức nóng và hơi ép nung vặn đã oằn lên như bánh đa ướt (…) Trung đoàn (…) đều một loạt áo quần đen (…) Chẳng bù với ngày còn đánh trong Hà Nội, anh em có gì mặc nấy (…) Cái đêm 17-2-1947 rút ra khỏi Thủ đô, ở tay anh nào – cả 140 chị nữa – cũng đều cho “lên” một sao vàng và một tháp Rùa vàng chóe (…) Đã có một anh công nhân (…) dập thật nhanh cung cấp kịp phù hiệu cho Trung đoàn. Trước anh vẫn dập lập-lắc xe đạp (…) Cái Tháp đẹp thật. Càng thấy nhớ đến Thủ đô. Anh em đã kể chuyện cho tôi nghe rất nhiều về Thủ đô. Thuật lại những đoạn nguy khốn từ sau ngày mất khu Đồng Xuân, anh em vẫn có cái cười phớt đời của con người Hà Nội, điểm thêm vào nhiều ngôn ngữ “tếu” (…) Bao nhiêu là hình ảnh! Cái rạp Tố Như, nơi làm lễ khai tử cho đoàn Quyết tử (…) Phố Hàng Đào, Hàng Giấy (Đồng Xuân) và cả khu Đông Thành, những vùng đạn bay vèo vèo (…) Khu Đồng Xuân, cái túi đựng đạn moóc-chi-ê của giặc. Tây (…) vật nhau với mình quanh những bàn thịt xi-măng trong chợ (…) Những tấm nệm bông tẩm dầu săng trải ra đường để bẫy đốt xe. Những bì đường chồng chất ở ngã ba ngã tư cho cao chắc thêm chiến lũy (…) Được trưởng thành trong khói lửa (…) các anh em đã thành công trong những trận đụng độ vừa qua (…) một ngày nào trong tương lai gần đây, sẽ kéo nhau về, đem cái Hà Nội phân tán này trả về cho tọa độ cũ, ở dưới đồng xuôi kia”.(D) Moóc-chi-ê tầm ngắn và kém chính xác, ba-dô-ca tầm càng ngắn tuy chính xác hơn. “Súng lớn” của ta còn gồm có sơn pháo 75 ly bắn tương đối vừa xa vừa dễ trúng mục tiêu, không biết tại sao không có mặt trong dịp này. Mời dân đến xem đạn nổ làm đá tảng “vỡ ải ra như bột cám”, lõi sắt bánh ô-tô “oằn lên như bánh đa ướt”, không phải là vô tư một chút nào đâu. Quân kháng chiến phải luôn làm cho dân nghĩ rằng mình mạnh lắm, thì mới có sự ủng hộ hết lòng tuyệt đối cần thiết của dân để mong thành công. “Tiếng đạn (vang trong thung lũng) nghe như tiếng gieo mình của sóng bể vấp bờ”, cái “tai” cực nhậy của Nguyễn nó vẫn còn nghe tốt đấy chứ... Những “Tháp Rùa vàng chóe (…) đẹp thật” ấy, khi “cái Hà Nội phân tán này” được “trả về cho tọa độ cũ, ở dưới đồng xuôi kia”, không biết bao nhiêu chiếc vẫn còn và được cùng người đeo về lại Thủ đô?

Tam Đảo 1948

“Từ Khu IV ra Việt Bắc, Tam Đảo là dãy núi cao đầu tiên chúng tôi băng qua, dốc ngoằn ngoèo có nhiều chỗ dựng ngược 15 độ 20 độ. Cảnh đang sang hè. Đỉnh cao trên kia là cái phần thưởng đích đáng cho người bộ hành xiết mãi tay gậy, gò lưng xuống. Từ gà gáy cho đến bây giờ, trăng đã nhô lên khỏi đầu núi. Chân miết vào dốc Tam Đảo. Ngực phồng lên khí lành Tam Đảo. Tay tôi khua động trong mây Tam Đảo. Sao trời ở quãng đèo dốc này sáng tỏ hơn bao giờ (…) Mây núi ở đây sát mắt mình. Giơ tay ra là quơ được (…) Suối thác ồ ồ không ngừng bên tai (…) Tạm quên cái bầu trời pha-lê bên ngoài cửa sổ, tôi nhắm mắt (…) Đêm vừa qua, tôi đã ngủ trên chỗ tàn binh Communal đóng quân, cách đây năm tháng (…) Cả cái đám tiếp viện ở Cầu Đuống lên (vào đầu) tháng chạp 47 (…) Chúng đốt cháy cả một ngôi làng ở cách phố Tây này một cây số (...) Tôi xuống thăm (…) cả làng chỉ còn nền nhà (…) (nhờ đồng bào chạy kịp) thiệt hại về người (…) không đến nỗi nặng như dưới phố Liễn Sơn và làng Mán Cửu Yên dưới kia. Hai vùng dưới ấy, ngoài nạn lửa lại còn bị cái nạn hãm hiếp (…) Lấp loáng chỗ xa tít tắp (là) Nhĩ Hà. Cái ngoẹo loáng ấy là cái tai (…) thấy cả chỗ sông Lô đổ vào (…) Đứng núi này trông núi nọ, thì phía tây nam Tam Đảo kia là Tản Viên (Ba Vì) chỉ trông thấy ngọn, chân mất hẳn trong hơi khói nhờ nhờ (…) Tam Đảo có nhiều (…) biệt thự (…) Tôi đã vào nhiều (…) Mỗi lúc (…) trở ra, lòng lại xốn xang một cái gì. Đấy là huyết lệ của số đông bị rút ngược lên đỉnh núi cao (…) Mùi hoang phế ở những điêu tàn khác gợi đến thương nhớ. Niềm tàn lạnh ở đây chỉ càng giục thù ghét nguyền rủa (…) Mỗi một khung cửa sổ không cánh cửa kia là một con mắt khuyết đồng tử (…) Ghé sát vào (…) từ đáy nó hiện ra dần dần không biết bao nhiêu là đâm chém, tù đầy, bòn rút, giả trá, mưu mô. Lặn mặt trời, gió quẩn ào ào (…) cuồng phong gặp vách đá, có lúc rền rĩ nhại lại cái rên xiết xưa kia (…) Dưới ánh trăng ngà, cái bể bơi của tây đầm khô trơ đáy (…) Vực Thác Bạc âm tối như lòng ngục (...) suối canh hai lào sào (tiếng) tội nhân đang xì xồ trong đêm ướt (…) Tôi có sang cái nhà mát của Toàn quyền Đông Dương dựng riêng ra trên một quả núi biệt lập. Lầu này đã tan hoang. Gió quẩn non cao gỡ từng viên ngói đá đen vứt xuống vực sâu. Những viên rơi ngổn ngang trên thềm núi, trẻ con lom khom nhặt về dùng làm bảng đen viết tập. Của mình đấy, cứ mang về nữa đi, các em ạ!”.(E) “Ngực phồng lên khí lành (…) tay (…) khua động trong mây (…) sao trời (…) sáng tỏ hơn bao giờ (…) bầu trời pha-lê”, dãy núi mới đáng trèo sao! “Biệt thự xanh, đỏ, trắng, vàng, chập chùng bám vào sườn đá. Ấy là (…) tàn tích thực dân (…) là huyết lệ của số đông bị rút ngược lên đỉnh núi cao (…) Rường cột lầu mái ấy là xương cốt con người trăm năm đô hộ cũ”. Đứng trước “nền cũ lâu đài bóng tịch dương”, “người đây” cũng “luống đoạn trường” y như Bà Huyện Thanh Quan. Nhưng Bà Huyện thương nhớ thời đã qua, còn Nguyễn thì ngược hẳn lại. Nguyễn đứt ruột là về bao nhiêu đầy tớ Việt đã bị chủ nhân Pháp bắt lên núi xây lâu đài. À, về những cái lâu đài, hay nói rộng ra, tất cả những cái mà giặc đã bắt người Việt Nam xây, nếu có giá trị thì trừ khi cần phá đi để phục vụ kháng chiến, ta nên giữ gìn cho dân ta hưởng.


Tháng 7-2018





____________
(A) Trích “Giữa hai xuân”, không biết nơi và ngày viết
(B) Trích “Sau đêm 19 tháng Chạp” viết ở Hà Nội, 3-1-1947.
(C) Trích “Gió Lào” viết ở Khu Tư, hè năm 1947.
(D) Trích “Tháp Rùa giữa rừng” viết ở Chợ Chu năm 1948.
(E) Trích “Tam Đảo 1948”, không biết nơi và ngày viết.
(1), (2), (3) Nguyễn Tuân trả lời phỏng vấn trong
Nguyễn Tuân - người đi tìm cái đẹp, nhiều tác giả, nxb. Văn Học, 1997.
(4) Tố Hữu, hồi ký
Nhớ lại một thời, nxb. Hội Nhà Văn, 2000.