Tô Hoài, Tự truyện (chương 3 và 4)



Chương 3

Cuộc mít-tinh lớn ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1938 ở nhà Đấu Xảo, tôi đi trong đoàn những người thất nghiệp (...) Đoàn chúng tôi đông (...) gấp trăm các đoàn thể có nghề (...)

Tôi vào thành phố lang thang lẩn thẩn suốt ngày đêm (...) Đêm khuya chỉ còn sương xuống ẩm vai áo. Những đàn chuột chạy rào rào qua mặt đường, trút xuống cống. Đến gần sáng, tai nghe đồng hồ quả lắc đánh liền liền (...) suốt dãy Hàng Ngang, Hàng Đào đóng cửa im ỉm (...)

Tôi đi học đánh máy chữ ở căn gác một góc phố gần chợ Cửa Nam. Lớp học đánh máy, một cái gác ngoài ọp ẹp mươi cái máy chữ, đặt thành ba hàng. Mỗi người đến học, mặt ai cũng vậy hễ ngồi vào bàn, cứ đăm đăm hầm hầm, không rời mắt khỏi cái máy. Họ cố học vì xót tiền (...) Tôi nghĩ tôi khó lòng học được đánh máy. Mới vài hôm mà đã chối lắm (...) thò tay xuống mặt bàn chữ, rợn như châm kim. Những cái chân con chữ cao quá, ấn xuống đau thót đầu ngón, mà nào nó có chịu tụt xuống hết cỡ cho (...) Đành bỏ nửa tháng đóng tiền trước (...)

Ít lâu sau, tôi xin được chân bán hàng ở hiệu giày Bata số nhà 89 phố Hàng Đào (...) Cơ chừng cậu Quáng cũng thấy tôi vụng về. Tay chân tôi cứng quều, và tuy tôi đọc thạo con số, nhưng lại hay quên (...) Được ba tháng, tôi rời cửa hàng cậu Quáng, về cửa hàng giày ở phố Hàng Khay - chỗ hiệu ảnh Quốc Tế bây giờ. Ông chủ nhất người Tiệp thấy tôi võ vẽ tiếng Tây bèn cho xuống bán hàng dưới ấy. Đây là một cửa hàng sang, nhà lát đá hoa và khách hàng phần nhiều là tây đầm (...) Rồi tôi cũng không đậu lâu ở cửa hàng phố Hàng Khay. Vì tôi ăn mặc làm bẩn mắt bà chủ hay vì bán hàng vụng cũng không biết (...)

Tôi (...) về làm ở bàn giấy hãng (giày Ba-ta) ở phố Giăng Sô-le (Hàng Bông Thợ Nhuộm) (...) (Sau một thời gian, bắt đầu được) đi Hải Dương, Thanh Hóa, Vinh và Móng Cáy (...) đi tính sổ (...) Rồi ông Xá chánh kế toán lại không cho tôi đi các tỉnh làm sổ nữa (...) (Có lúc “tôi” được xuống Nam Định làm quản lý, nhưng chẳng bao lâu bị cho là đã làm mất rất nhiều giày, phải về Hà Nội làm trong kho với lương bị trừ một nửa không biết đến bao giờ) (…) Ngày lại ngày. Tôi vùi đầu trong kho. Bên trong cánh cửa nào cũng toàn những đống giày xếp chất ngất áp trần nhà (...) Giày ôi là giày, thế nhưng ở giữa lù lù những gò giày, núi giày, cái hơi sơn, hơi da, hơi thuốc kỳ quái và những hàng con số, những chữ lạ lùng, tôi lại nhìn ra trong bóng mờ mờ ngập đầu, hiện hình những đất nước và sông núi xa xôi quá. Tôi thấy thành phố Zlin tấp nập thợ đóng những đôi giày khổng lồ phải đến ba bốn người trèo lên mũi giày mới khoan được một lỗ kim để xỏ dây khâu, kỳ quái như trong truyện Du ký Guy-li-ve (...) thấy (...) những cột ống khói phun ra cả nghìn vạn đôi giày. Không bao giờ có thể tưởng được ngót ba mươi năm sau (mình sẽ) có dịp đặt chân đến thành phố Zlin thủ đô giày, có trường đại học giày ở nước Tiệp (...)

Tôi gặp lại trong kho giày nhiều anh em (...) hồi phong trào Bình dân (...) Một hôm, tôi đương dọn kho, vớ được tờ báo Đông Pháp. Tin nói bên Tây quân Pháp đương đánh nhau với phát-xít Đức (...) Tin từ bao giờ mà tưởng mới hôm qua. Tôi bâng khuâng, mừng mừng lo lo. Chiến tranh lan rộng (...) có thể làm tan biến những cái tù túng, cái khốn khổ khốn nạn này. Có lẽ thế. Có lẽ thế (...) Cuộc đời trong kho hàng cứ ngày một rúc ráy (...) Tôi bỏ việc (...) (Vài ngày sau trở lại xin làm tiếp, nhưng không được) (…)

Buổi chiều ấy tôi vừa về đến nhà, ông lý Sùng đem tờ giấy sức gọi tôi lên hầu phủ. Cả cái xóm nhỏ xôn xao (…) Bà ngoại tôi đã lại kêu khóc lu loa lên rồi. Có người ngờ là giấy bắt lính. Có người đoán (…) quan phủ bắt những đứa trước làm Ái hữu lên hỏi tội (…) Vào đến phủ Hoài, mới biết là giấy sức gọi lính thật. Bây giờ, các nơi đương bắt lính sang Tây (…) Xe ô-tô vận tải có lính áp giải chở chúng tôi đi ngay (…) Vào đến tỉnh, vừa bước chân xuống bãi cỏ, đã thấy ông Tây giám binh ria vểnh cầm chiếc roi da, từ trong cổng bước ra đến trước mặt, tuôn một tràng tiếng Tây, tôi nghe đại khái:

- Các anh vào lính đương lúc Nhà nước cần. Dịp tốt cho chúng ta bày tỏ lòng biết ơn Tổ quốc Đại Pháp. Và cũng là một cái may. Ở Đông Dương bây giờ kiếm việc làm không phải dễ. Các anh đi, khỏi mắc nạn thất nghiệp, khỏi phải về quê làm ruộng. Các anh có chữ, các anh sẽ được làm thông ngôn. Thông ngôn là một nghề có tương lai. Các quan An Nam ngày trước xuất thân đều làm thông ngôn cả.

(…) Người ta đồn chiều mai đi ngay Hải Phòng. Một tuần đợi dưới Phòng rồi xuống tàu thủy sang Tây. Cứ rối rít cả lên (…) Tôi bị đưa ra cạo trọc đầu ngay giữa bãi cỏ rồi được phát một bộ quần áo vàng. Cánh tay tôi đeo cái băng vàng. Cái băng ấy chỉ tôi là lính thông ngôn. Người ta chia cho tôi bảy người lính. Một lính thông ngôn cho bảy lính (…) Xung quanh trại lính khố xanh, bên ngoài mấy tầng mắt cáo dây thép gai, lố nhố người kêu khóc, người lách rào đưa nải chuối, gói cơm nếp (…) Trong này ném ra bọc quần áo cuộn tròn vừa cởi lúc nãy, cho người nhà đem về (…) Mỗi hôm người kéo tới mỗi đông. Đến tối, thì có hàng nước chè tươi và đám hát xẩm mò ra kiếm ăn. Như cái chợ con quanh đám bị bắt lính. Một buổi chiều, tôi trông ra, thấy bà ngoại tôi đã chen được vào tận hàng rào dây thép gai (…)

(Không thấy kể tiếp chuyện này nữa. Không biết nhờ đâu “tôi” khỏi sang Tây làm lính.)

Chương 4

Tôi đi tìm Cư. Qua cái ao nhỏ, xanh cứng những đám sen Nhật. Một gốc cây gạo to chắn giữa ngõ càng thêm chật chội lối đi Những chiếc hoa gạo đỏ chói mắt, những con quạ, con sáo rỉa hoa rụng xuống, làm cái ngõ lầy lội thêm. Đấy là cuối phố Ngọc Lâm bên kia sông, lối vào nhà Cư (…) Tôi kể với nó là tôi định đi Hải Phòng tìm việc.

Cư bảo:

- Không phải đi đâu cả, mày cứ ở đây. Ơn trên xuống khắp hoàn vũ xa gần. Ơn trên...

Tôi chưa hiểu (…) Cư đã lại nói:

- Chúa Giê-hô-va sẽ cứu mày. Vì lỗi tôi ngài phải hạ trần mày biết không?

Nghe đặc giọng đạo, như thày giáo Đặng Đình Hướng.

Tôi đã hơi hiểu.

- Chủ nhật này mày đi với tao. Mày lĩnh sách nhà thờ đem bán ăn tiền hoa hồng, lấy cái sống đã.

Tôi ngờ ngợ, hỏi:

- Đi có xa không?

- Hàng Da.

Đấy là cái nhà thờ đạo Tin Lành cạnh chợ Hàng Da, trên đầu tường có xây quyển sách to bằng gạch, ai đi qua cũng trông thấy. Tôi chưa vào bao giờ (…) Tôi đã gặp những người bán sách đạo Tin Lành trên xe điện (…) Người nào cũng (…) mặt đăm đăm (...) nói huyên thuyên ba ngôi trời đất cao siêu xong (…) đi chìa sách ra hai bên nài người mua. Ít khi lắm mới nhặt được vài ba xu (…) Bây giờ Cư rủ tôi đi bán sách đạo (…) Tôi không tưởng được sao thằng Cư lại đi đạo Tin Lành chóng thế (…) Lớp bét trường tôi năm trước, thầy giáo Đặng Đình Hướng cũng đi đạo Tin Lành. Đến giờ ra chơi, thầy đứng một góc sân, quyển sách che miệng, cứ thì thào nói một mình. Thầy giáo Hướng hiền lành thế mà một hôm cũng có người vào tận trường đuổi đánh thầy rách cả cái áo the. Đấy là người bên đạo Gia-tô, đạo có cố tây, họ bảo đạo Tin Lành là đạo dối, họ đến “đánh chết thằng đạo dối”. Tôi cứ nghĩ tôi ôm một chồng sách nhảy lên tàu (…) Tôi thà chui đâu thì chui (…)

Một ngày nọ, thế là tôi đi Hải Phòng (…) Tôi hỏi thăm đến đường Cát Dài, tìm được nhà Cần. Cần là bạn đã làm ít lâu với tôi ở nhà giày Ba-ta trên Hà Nội. Năm ngoái, tình cờ gặp lại. Cần nói bây giờ Cần làm ga Hải Phòng (…) Sau này, mỗi khi nhớ đến vợ chồng bạn, bao giờ tôi cũng bồi hồi và nghẹn ngào (…) Lòng tốt của Cần và tình thương của vợ chồng anh đối với tôi (…)

Cần cười hề hề, bảo tôi:

- Nhà chúng mình đây, cứ ở. Bao giờ kiếm được việc hẵng tính sau.

Thúy, vợ Cần, nói:

- Anh đừng lo, có thế nào ở thế ấy, có gì ăn nấy.

Nhưng tôi đã thực sự lo. Không lo sao được! Có gì ăn nấy thì chưa biết, nhưng có thế nào ở thế ấy thì tôi không hiểu ra sao. Vào nhà, lên đến chỗ Cần ở phải đi suốt cái gác hai, rồi qua một hành lang nhiêu khê lắm mới tới. Có lẽ đây là cái buồng tắm cũ. Kê vừa vặn được chiếc giường nhỏ. Thò chân ra ngoài thành giường, đã đụng vào tấm cánh sáo che hiên. Vợ chồng Cần có hai hòm khóa chuông để dưới gầm. Mọi thứ, quần áo và cả gạo, thức ăn đều đựng trong hòm. Cái hỏa lò thổi cơm cũng nhét gầm phản. Buồng không cửa, chỉ có chiếc cánh sáo mà tối đến, lúc ngủ mới buông xuống được. Bấy giờ đã sang tháng tám, đêm se se lạnh (…) Ngày ngày tôi đi dạo trong thành phố tha thẩn tìm việc rồi cứ liệu đến bữa về ăn cơm, tối thì rúc vào nằm trong cùng cái giường ấy. Cần nằm giữa. Vợ Cần nằm ngoài. Những tháng sau, khi trời rét hẳn rồi tôi kéo ghé một tí cái chăn dạ. Ngày lại ngày, tôi đi tìm việc. Thấy cái giấy dán ở đầu tường nào tôi cũng đến đọc, thấy cửa hiệu to, tôi ghé nghiêng nhòm vào rồi hỏi. Chẳng đâu ăn thua. Đôi khi, quẫn quá, tôi không dám về. Tôi ngủ đêm ngoài bến tàu Tây Điếc, chỗ vườn hoa chợ Sắt hay ngay ở Sáu Kho. Hôm sau, sĩ diện, nói phét là gặp bạn nó rủ về nhà chơi và mời chén cơm cẩn thận (…)

Trong thành phố, ở các vườn hoa hay bất cứ một bãi cỏ rộng nào, đều đen ngòm những thùng tông ét- xăng. Hồi ấy, người Pháp để cho Tưởng Giới Thạch đưa ét-xăng vào Hải Phòng, rồi lại cho thuê đường tải lên phía bắc. Trên biên giới, từ các cửa quan Chi Ma, Pò Mã, Phục Hòa, Tà Lùng hay Bình Mãng, Bình Nghi trở lên đất Trung Quốc, các xe ô-tô chở ét-xăng cho Tưởng Giới Thạch bị máy bay Nhật đuổi, đánh bom suốt ngày đêm. Lái xe (…) kiếm bẫm (…) Ở Hải Phòng bấy giờ, người ăn chơi (chủ yếu là) là các tay tài xế liều chết này và những nhà giàu bên Tàu chạy loạn từ Nam Kinh, Thượng Hải sang.

Loanh quanh, tôi lại về nhà Cần. Tôi cứ ngần ngại, chứ Cần thì bao giờ cũng chỉ cười hề hề (…)

Tôi vẫn mải miết đi tìm việc. Con đường Cát Dài dài dặc. Bụi bốc trắng bay là là mặt đường đá trắng. Mỗi hôm gió may càng thổi sâu vào mùa đông. Trở giấc, tôi nghe gió quét rào rào ngoài kia. Cái lạnh cứ tê dần từ các ngón chân lên hai đầu gối. Những lúc ấy không thể ngủ được. Có khi chúng tôi còn thức, nói huyên thuyên đủ các thứ chuyện. Cần bâng khuâng hỏi trong bóng tối: “Không biết đời chúng mình cứ thế này đến bao giờ?”. Tôi không hiểu Cần băn khoăn về cuộc đời theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, còn tôi thì đương nghĩ đến một cái gì mơ hồ buồn lắm. Ngoài bến Sáu Kho, đậu những con tàu trắng toát, những con tàu xám ngắt, thỉnh thoảng những con tàu ấy từ ngoài biển vào đỗ giữa những đám thuyền tam bản rách nát, đen xỉn, lờ đờ bơi quanh bờ nước. Vài hôm, con tàu đại dương lại rời cảng ra khơi. Tôi đứng trông theo, ước cái thân được như con tàu. Viển vông thế thôi, chứ mình đương khác nào đám thuyền buồm rách (…)

Mỗi ngày qua, chồng chất những nghĩ và nghĩ. Làm sao ở yên mãi được trong cảnh một giường mà ba người nằm thật oái oăm này. Bây giờ còn lạnh, ít nữa, mùa hè nóng nực tới thì sao. Vợ chồng Cần lặng lẽ và bình thường đến nỗi tôi tưởng tôi có thể ở một cách thản nhiên thế mãi và tôi chỉ giật mình khi tự xét thấy làm người mà phải nằm ngồi rúc ráy đến như thế thì tủi nhục quá. Tôi có cảm tưởng mọi người ở nhà dưới, nhà trong đang căng mắt nhìn “cái thằng ba người một giường” đi qua... Làm sao không tò mò và kinh tởm nữa.

Thúy bụng đã khạng nạng gần tới tháng đẻ (…)

Giữa phố Khách chật chội chen chúc người đi có cái xe bò chở rác lộc cộc qua (…) Tường thật (…) Tôi đã tự thấy tôi không dám bắt chước thằng Cư đi đạo Tin Lành. Tôi cũng không theo được Tường đi ở cho hiệu Khách. Không phải tôi chỉ xấu hổ, mà tôi không đủ can đảm.

Một hôm Thúy hỏi tôi:

- Anh đã tìm ra việc gì chưa?

Từ ngày đến ở nhà bạn, chưa bao giờ Thúy hỏi tôi như thế. Thúy có điều gì nghĩ về tôi. Tôi sợ sệt như một kẻ có lỗi. Bấy lâu, vì tôi mà vợ chồng Thúy mang tiếng. Tôi bặm môi, ngượng nghịu thở dài. Nhưng Thúy đã cười vẻ nghịch ngợm: “Tôi bảo anh cái này nhé. Mấy cô bạn tôi làm “ca-va-li-e” (gái nhảy), anh biết đấy, chủ nhật này ta đến chơi chỗ chúng nó. Chúng nó nghèo, nhưng tốt. Cứ tán sát sạt nhé. Cô nào mà bằng lòng “bao” thì cũng được, đỡ hơn cái cảnh thất nghiệp nhiều. Phải chịu khó thế. Đến lúc có việc hãy hay, anh ạ. Nhưng anh phải mạnh bạo lên. Chúng nó tự nhiên lắm. Mình “a-la-xô” (xông vào) gấp đôi mới ăn thua” (…)

Chiều chủ nhật (…) Vừa nhô lên khỏi mấy bậc thang gỗ ở góc nhà, đã trông thấy bốn năm cô nằm ngổn ngang, ngay đầu sàn (…) Tôi cũng bình tĩnh (…) Tôi đã quyết rồi (…) Cô nào cũng hốc hác hoặc sệ ra, vẻ mệt mỏi. Cô nào cũng già úa (…) Những cô này đích thị gái điếm, không phải gái nhảy (…) Tôi đương một xu không dính túi (…) Ví với cái giẻ lau tôi cũng chưa đáng, cành cao lá dài đâu mà khen chê ai (…) (Đại khái, sau đó tôi đã “a-la-xô” một cô nhưng gặp phản ứng khó hiểu)

Tôi nghĩ loăng quăng xa gần cả đêm (…) (Có lúc nghĩ phải thử xông vào lần nữa) (…) Trời sáng, tôi có cảm tưởng mặt tôi đã bệch ra (…) Tôi không thể làm thế (…) chết thôi, chết thì thôi tôi không thể thảm hại đến vậy (…)

Từ sớm, bà phán Quý đã bắc ghế ngồi trong nhà chửi vóng ra. Tiếng bà rin rít vi vút trên đầu tường (…) Đến trưa ông phán Quý đứng trước hiên, vén bức mành, nhổ toẹt miếng nước súc miệng ngay trước chân tôi vừa bước tới, rồi nói: “Này, này! Tối nay mà “vu” còn về đây tụ bạ vô luân lý sẽ có đội con gái đến điệu các “vu” về bóp. Là “moa” có tính làm phúc hay thương người, “moa” bảo trước cho mà biết”. (Vợ chồng phán Quý hễ thua bạc là cho rằng bị xúi quẩy do chuyện ngủ chung giường của ba người ở cùng nhà.)

Tôi không trở lại nhà Cần tối hôm ấy. Tôi cũng không nói cho vợ chồng Cần biết tôi đi đâu.

Trong túi không còn một chinh. Nhưng tôi lại trở về Hà Nội (…) cuốc bộ về Hà Nội (…)