“Cũng như trong đợt tiến công thứ nhất, suốt nửa giờ đầu, pháo binh địch không thể lên tiếng (...) Một nửa giờ đã trôi qua. Lúc này, pháo binh địch đã hoàn hồn, bắn dữ dội”. Nó “hoàn hồn”, bắt đầu “lên tiếng” được, chắc chắn là do pháo binh ta đã thôi bắn hay bắn thưa hẳn đi, vì đã dùng hết hay sắp hết số đạn dự trù.

Trong đợt thứ nhất, ta bắn 2000 viên 105 ly, đợt này không biết tổng cộng bao nhiêu, chỉ biết ngay cả A1 cũng chỉ được “nhận” có 100 viên! Về phía Pháp, “trong đêm 30 tháng 3, quân địch đã bắn 13.000 viên đạn 105 ly, 855 viên đạn 155”. Lẽ ra bên công phải có hỏa lực áp đảo, đằng này kẻ thủ vừa nấp kỹ vừa được chi viện hỏa lực cực kỳ hào phóng.

“Sở chỉ huy nhận định: tuy bộ đội đã hoàn thành phần lớn nhiệm vụ đợt hai, nhưng chưa chiếm được điểm cao phòng ngự then chốt A1”. Cái điểm cao này sẽ chứng tỏ khó đánh hơn mọi dự kiến của ta.

(Thu Tứ)



Võ Nguyên Giáp, “Các trận đánh đêm 30-3-54”



Mưa dầm dề mấy ngày liền. Chúng tôi lo mùa mưa năm nay đến sớm. Tới ngày nổ súng thì mưa tạnh. Lợi dụng trời còn nhiều mây, từ sáng, trợ chiến các đơn vị đã ra chiếm lĩnh vị trí. Buổi trưa, bộ binh xuất phát. Trận địa chiến hào của ta đã bò tới chân các điểm cao. Mặc dù quân địch những ngày gần đây đã nhiều lần dùng bom, đại bác đánh phá và đưa quân ra san lấp chiến hào, nhưng trận địa của ta vẫn được duy trì, và lúc này đã chứng tỏ giá trị của nó. Bộ đội ta vào gần đồn, địch vẫn chưa biết.

18 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ hai vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu.

Các điểm cao phía đông, một số vị trí bảo vệ sân bay ở phía tây, các trận địa pháo và khu vực quân cơ động địch chìm trong khói lửa. Cũng như trong đợt tiến công thứ nhất, suốt nửa giờ đầu, pháo binh địch không thể lên tiếng.

Những giờ đầu cuộc chiến đấu tiến triển khá thuận lợi.

Tại C1, lần đầu ta mở rào bằng đạn phóng bộc lôi. Các pháo thủ bắn rất chính xác. Bộc lôi nổ phá tung từng đoạn rào. Khi pháo chuyển làn, các chiến sĩ bộc phá xông lên giải quyết nốt những đoạn còn lại. Sau năm phút, tiểu đoàn 215 của 98 đã dọn xong cửa mở qua bảy lần rào dây thép gai. Chớp thời cơ hỏa lực địch đang còn tê liệt, tiểu đoàn trưởng Bùi Hữu Quán hạ lệnh xung phong. Chỉ bằng một đợt xung phong mạnh, trong 10 phút, đại đội 38 đã chiếm được chiếc lô-cốt nằm trên mỏm đất cao nhất nhô lên trên đỉnh đồi mà ta gọi là mỏm Cột Cờ. Tiểu đội trưởng mũi nhọn Nguyễn Thiện Cải cắm lá cờ Quyết Chiến Quyết Thắng lên nóc sở chỉ huy của địch. Quân địch dồn về những lô-cốt ở khu vực phía tây, gọi pháo bắn vào quân ta, rồi bắt đầu phản kích. Các chiến sĩ xung kích ném lựu đạn, lao tới dùng lưỡi lê đánh giáp lá cà, đập tan ba đợt phản kích của địch. Trận đánh diễn ra đúng 45 phút. Toàn bộ lực lượng địch bị giết hoặc bắt sống, ta thương vong rất ít.

Trung đoàn trưởng Vũ Lăng báo cáo về đầu tiên: “98 đã chiếm hoàn toàn C1”. Tôi gửi điện khen trung đoàn 98 và thưởng huân chương Quân công hạng ba cho tiểu đoàn 215 vì đã hoàn thành nhiệm vụ nhanh và gọn nhất mặt trận.

Tại điểm cao E, pháo ta nổ đúng lúc diễn ra cuộc thay quân giữa một đại đội của tiểu đoàn 3 An-giê-ri với đại đội của tiểu đoàn dù 5 tới thay thế. Binh lính với đầy đủ trang bị đang tập trung dọc giao thông hào không có hầm trú ẩn tháo chạy xô vào nhau. Đại đội cối hạng nặng nằm giữa vị trí chưa kịp bắn loạt đạn nào đã bị pháo ta tiêu diệt. Hai mũi tiến công của tiểu đoàn 16 và tiểu đoàn 428 mở cửa qua hàng rào dây thép gai và bãi mìn nhanh đến mức những loạt đạn bắn chặn của địch đều rơi khá xa phía sau các chiến sĩ xung kích. Sau một giờ xung phong áp đảo quân địch, bộ đội ta chiếm toàn bộ cứ điểm. Anh em khẩn trương tổ chức phòng ngự và dùng súng ĐKZ, súng cối, đại liên chi viện cho mũi thọc sâu của trung đoàn phát triển, đồng thời khống chế trận địa pháo của địch đặt trên điểm cao 210 ở phía dưới.

19 giờ 45 phút, trung đoàn trưởng Quang Tuyến báo cáo hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt đồi E.

Tại điểm cao D1, thời gian mở cửa đột phá cũng diễn ra nhanh. Chỉ sau 5 phút, ở hướng chính, tiểu đoàn 166 đã phá xong ba lượt hàng rào và xung phong vào căn cứ. Bộ đội ta nhanh chóng thọc sâu chia cắt đội hình địch ra từng mảng để tiêu diệt. Chiến sĩ thi đua Trần Can, vừa được đề bạt trung đội trưởng, một lần nữa lại băng lên cùng với tiểu đội đi đầu chiếm từng ụ súng, từng góc chiến hào. Tuy nhiên, ở hướng phụ, giao thông hào ta đào đã bị địch lấp mất 50 mét, tiều đoàn 154 tiến vào gặp lầy, mở cửa chậm bị hỏa lực trong đồn khống chế, phải mất gần một giờ mới lọt vào trong đồn. Viên đại úy Ga-răng-đô, chỉ huy tiểu đoàn 3 An-giê-ri, bị pháo vùi chết trong hầm của sở chỉ huy.

20 giờ, trung đoàn trưởng Hoàng Cầm báo cáo hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt đồi D1.

Những tên lính Bắc Phi, ngụy Thái sống sót từ hai đồi E và D1 tháo chạy hỗn loạn về phía sông Nậm Rốm.

Thừa thắng, Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn ra lệnh cho lực lượng dự bị của 209, tiểu đoản 130, đánh xuống điểm cao D2.

Chờ mãi vẫn chưa có tin về A1 và các mũi thọc sâu. Hỏi 316, Đại đoàn trưởng Lê Quảng Ba báo cáo: từ đầu trận đánh không liên lạc được với 174 vì đường dây điện thoại bị đại bác cắt đứt, hiện đang cố nối lại.

Trung đoàn 174 mất liên lạc với đại đoàn, không nhận được lệnh tiến công. Khi nghe trên những điểm cao khác tiếng súng của bộ binh ta đã nổ ran, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An quyết định ra lệnh cho hỏa lực của trung đoàn bắn vào cứ điểm yểm hộ cho xung kích mở cửa. Một nửa giờ đã trôi qua. Lúc này, pháo binh địch đã hoàn hồn, bắn dữ dội vào cửa mở. Các lô-cốt, ụ súng địch ở tiền duyên dồn đạn về phía các chiến sĩ bộc phá đang lùa những ống thuốc nổ phá hàng rào. Phải mất hơn nửa giờ, hai mũi tiến công của hai tiểu đoàn 251 và 249 mới vượt qua một trăm mét rào và bãi mìn lọt vào đồn.

Khi nghiên cứu A1 ta đã nhận thấy địch dựa vào địa thế tự nhiên của quả đồi, bố trí công trình phòng thủ thành ba tuyến. Bên ngoài, ở tiền duyên là tuyến chống cự chủ yếu. Tuyến trung gian có đặt trận địa hỏa lực. Trên đỉnh đồi là tuyến cố thủ và sở chỉ huy. Trong cứ điểm có nhiều tuyến chiến hào và giao thông hào liên hoàn. Tất cả các lô-cốt và hầm trú ẩn đều có nắp đậy, chịu được đạn súng cối và pháo.

Lực lượng ta bị tổn thất nhiều khi vượt qua cửa mở. Những tên lính Ma-rốc và lê-dương dù 1 dưới sự chỉ huy của Ni-cô-la chống cự quyết liệt. Ta và địch giành nhau từng ụ súng, từng ngách hào. Địch lùi dần. Tới đỉnh đồi, chúng biến đi sau một ụ đất cao. Giữa lúc ấy đạn đại bác 105 từ Hồng Cúm và đạn cối 120 từ Mường Thanh dồn dập trút xuống đỉnh đồi. Bộ đội bị thương vong nhiều. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An quyết định đưa tiểu đoàn dự bị 255 vào chiến đấu. Lúc này cuộc chiến đấu trên những điểm cao khác đã kết thúc, địch dồn tất cả hỏa lực đại bác và súng cối vào A1 mong cứu vãn tình hình. Các đợt xung phong của 255 cũng không vượt qua được hàng rào hỏa lực.

Quá nửa đêm, cuộc chiến đấu tại A1 diễn ra giằng co. Ta và địch mỗi bên chiếm nửa đồi.

Tại Mường Thanh, Lăng-gơ-le điên đầu khi thấy những ngọn đồi phía đông nhanh chóng bị tràn ngập. Lăng-gơ-le đã nghĩ tới sự thất thủ của khu trung tâm trong đêm. Đờ Cát nêu ý kiến cần tiến hành phản kích ngay. Nhưng Lăng-gơ-le thấy dù tình hình ra sao cũng phải đợi đến khi trời sáng. Những cuộc phản kích thất bại ở Bê-a-tơ-ri-xơ và Ga-bơ-ri-en đã chứng tỏ không nên đưa quân đi trong đêm thiếu sự yểm hộ của xe tăng và máy bay. Không riêng các điểm cao phía đông bị tiến công, một cứ điểm tiền tiêu của sân bay ở phía tây, Huy-ghét 7, cũng đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt, khẩn cấp yêu cầu tăng viện. Lăng-gơ-le kiên quyết khước từ vì cho rằng số phận của tập đoàn cứ điểm lúc này đặt trên những điểm cao phía đông. Giữa lúc đó, mất liên lạc với Ni-cô-la ở Ê-li-an 2 (tức A1). Lăng-gơ-le toan ra lệnh cho toàn bộ pháo bắn hủy diệt vào cứ điểm này thì Bi-gia từ Ê-li-an 4 dùng bộ đàm gọi về báo tin Ni-cô-la vẫn còn bám giữ được ở đó, và cho biết sẽ tăng viện cho Ê-li-an 2 một đại đội của tiểu đoàn dù 6 để kéo dài cuộc chiến đấu tới sáng.

Như vậy, trên A1 lúc này địch có ba đại đội, nhưng đại đội Ma-rốc 4 và đại đội dù lê-dương 1 hầu như đã mất sức chiến đấu.

Phía đồi C, tiểu đoàn 215 của 98 sau khi chiếm C1 đã quyết định điều đại đội 35 lên thay thế đại đội 38 vừa hoàn thành nhiệm vụ về phía sau làm lực lượng dự bị, tuy đại đội này mới thương vong có mười người còn rất sung sức. Ta đã để lỡ thời cơ khi quân địch ở C2 đang hoang mang vì C1 thất thủ. Giữa lúc ta đang điều chỉnh lực lượng, bộ đội ùn lại khá đông trên đồi thì pháo địch bắn dồn dập. C1 địa hình hẹp, công sự ít, nhiều anh em phải đứng ở giao thông hào nên số thương vong đáng kể. Việc tổ chức tiến công C2 bị chậm lại. Mãi gần 21 giờ, tiểu đoàn mới triển khai chiến đấu.

Đồi C2 khá rộng nối với C1 bằng một yên ngựa, sườn đồi phía trong thoai thoải đổ xuống đường 41, rất tiện cho quân cơ động địch lên phản kích. Trên đồi có hệ thống chiến hào liên hoàn với nhiều lô-cốt, ụ súng khá kiên cố, phía ngoài là nhiều lớp rào dây thép gai và bãi mìn. Đây là nơi Bi-gia đặt sở chỉ huy tạm thời.

23 giờ, một trung đội của đại đội 35, do đại đội phó và chính trị viên chỉ huy, vượt qua yên ngựa đột nhập được một đoạn hào của C2. Trung đội nhanh chóng phát triển chiếm liên tiếp 11 lô-cốt và ụ súng. Nhưng lực lượng phía sau nhiều lần xung phong đều bị hỏa lực rất mạnh của địch cản lại. Tiểu đoàn 215 quyết định lui về C1.

Phía đồi D1, tiểu đoàn 130 của 209 phát triển xuống D2 vấp phải hỏa lực bắn thẳng từ trận địa pháo trên cứ điểm 210 và hai cỗ trọng liên bốn nòng đặt bên kia sông Nậm Rốm, phải ngừng lại.

Càng về khuya, đại bác địch càng hoạt động mạnh. Cuộc chiến đấu của bộ đội ta trên những điểm cao phía đông đã chững lại.

Sau này ta biết trong đêm 30 tháng 3, quân địch đã bắn 13.000 viên đạn 105 ly, 855 viên đạn 155, 1.200 viên đạn súng cối 120.

Sở chỉ huy nhận định: tuy bộ đội đã hoàn thành phần lớn nhiệm vụ đợt hai, nhưng chưa chiếm được điểm cao phòng ngự then chốt A1. Trung đoàn 174 không còn khả năng giải quyết A1. Trung đoàn 98 đánh xuống C2 không thành công, đã bị tiêu hao. Ta cần điều một đơn vị khác tiếp tục tiến công A1 và giúp phòng ngự C1 ban ngày. Anh Thái đề nghị sử dụng trung đoàn 102 của 308. Vào đầu đợt hai, 308 vẫn phụ trách mặt trận phía tây, riêng 102 đã được chọn làm lực lượng dự bị cho khu đông.

Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định: Các đơn vị khẩn trương tổ chức trận địa phòng ngự trên các điểm cao C1, D1, E, chuẩn bị đánh địch phản kích ban ngày, quyết không để địch chiếm lại. Đại đoàn 308 đưa trung đoàn 102 từ phía tây sang phía đông, tiếp tục tiến công tiêu diệt A1 và phòng ngự tại C1. Hai trung đoàn 88 vả 36 của 308 chuyển từ nhiệm vụ dương công sang tiêu diệt các cứ điểm 106 và 311 ở phía tây, trung đoàn 165 của 312 đánh cứ điểm 105 (Huy-ghét 6) ở phía bắc, uy hiếp mạnh quân địch tạo điều kiện cho các đơn vị ở khu đông hoàn thành nhiệm vụ.


(Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hồi ký
Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử in lại trong Tổng tập hồi ký, nxb. Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2006, tr. 1025-1029)