Thu Tứ, “Sư chim sư rùa”




Châu thổ sông Hồng có những quả núi con xinh quá. Xanh um, nổi bật giữa lúa xanh mởn, từ xa trông, nhất là vào mùa hè, ước hóa ngay được thành chim mà bay về đỗ trên cành tre, cành ổi, hay trên chót vót cái mái đầu đao cong vút của một ngôi chùa.

Núi xinh mọc đâu, thì y như rằng đã sẵn mọc đấy từ đời nào một cảnh chùa.

Núi ở đồng bằng gần nơi đông người, có cây xanh, chùa cổ, có khi lại có cả một hay vài cái hang đá kỳ bí, hẳn quanh năm không lúc nào đến nỗi vắng khách? Cũng tùy nơi.

*

Năm 1922 Nguyễn Ðôn Phục chơi núi Tử Trầm rồi về viết Du Tử Trầm sơn ký: “Trước kia (...) tuy rằng có chùa, nhưng chùa (...) vắng tanh; tuy rằng có bụt, nhưng bụt (...) mốc thếch; tuy rằng có đường vào, nhưng (...) cỏ rậm (...) mây phong; nhân sĩ xứ Ðông Ðô ta, hình như chỉ biết có hang Sài Sơn hang Hương Tích mà thôi, không biết có hang Tử Trầm là chi cả. Chao ôi! Cái hang thiên nhiên kỳ tuyệt ấy, vả lại gần gỏi thượng đô đây; thế mà quanh năm sớm tối, chỉ phó mặc cho mấy đứa tiều phu ra vào, mấy chú hàn tăng cư trú; chẳng oan lắm ru? Chẳng thiệt lắm ru!”.(1)

May cho người Hà Nội, vẫn Nguyễn Ðôn Phục cho biết, năm Duy Tân thứ bảy (1912?), nhờ mắt xanh của quan Hà Ðông Tổng đốc Hoàng Trọng Phu, chùa được “phú tăng” đến trụ trì, bụt được cọ sạch mốc, đường vào được nâng cấp đón các loại xe, khiến thắng cảnh núi Trầm “từ đấy mới thật là xuất hiện ra ở xứ Ðông Ðô (...) bảo rằng đỗng này là đỗng cũ từ thủa Hồng Bàng (...) cũng phải, mà bảo rằng đỗng này là đỗng mới của quan Tổng đốc Hoàng mới tìm được ra đây cũng phải”.(2)

*

Than ôi, công đức Hoàng Trọng Phu không hề lớn đến gần vậy. Nguyễn Ðôn Phục là khách du, không phải nhà khảo cổ. Năm 2002, nhân trình bày kết quả việc tìm hiểu di tích chùa Long Tiên trên núi Trầm, Nguyễn Quang Hà dẫn Ðại Nam nhất thống chí: “Núi (...) dưới có thạch động, trên có chùa (...) vua Lê cất hành cung ở đấy, đào hồ theo dọc núi để bơi thuyền”.(3) Vua ở, bơi thuyền, thế thì núi Trầm ngày xưa chắc chắn đã “dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe như nước...”. Cái cảnh đìu hiu chỉ kẻ kiếm củi ra vào với sư nghèo lấp ló khiến khách du sơn nghe phải chạnh lòng là cảnh sau bao nhiêu dâu bể!

Hóa ra, non nước hữu tình từng đã có đông đảo người thưởng thức, rồi do thế sự thăng trầm trở nên lu lạm trong óc nhân sĩ Ðông Ðô, rồi đến đầu thế kỷ 20 nhờ có quan địa phương chú ý mà tái xuất hiện...

*

Sau khi đọc N.Q.H., có dịp ghé chốn danh sơn, thấy người xưa quả nhiên tinh tế. Trông cảnh đá dựng lởm chởm, cây cối mọc um tùm, kín đáo, nhớ nhận xét của Phan Huy Chú: “Quang cảnh đậm đà...”.(4) Dạo quanh co, nghiêng ngó hồi lâu, lại văng vẳng lời vua Lê: “Ta ưa nơi này, núi không cao mà tốt đẹp...”.(5)

Ðẹp, duyên, chao ơi, mà sao vắng thế! Hôm ấy ngoài khách duy nhất, khắp chùa chỉ có đúng hai “đại biểu” nữa thuộc giống người ta: một là bà cụ đang ngồi ngủ gục nơi hàng nước gần cổng, hai là thanh niên đang xách đèn pin theo chân đòi thuyết minh.

Trong động bước ra, ngẩn ngơ, chợt thấy cái mà lúc bước vào không thấy. Nguyễn Đôn Phục có ghi chép: “… đôi ba hòn đá hình như con qui con tượng”. “Qui” đây rồi, còn “tượng” không biết đứng ở đâu.

Ngắm rùa đá him mắt phơi mai dưới nắng vàng một lúc, tha thẩn trở lại sân chùa. Lại chợt thấy cái lúc nãy không thấy, là dưới một gốc cây có bát nhang sờ sờ một tượng chim nghẻo đầu, không biết bằng gỗ hay đá. Tượng tạc đơn sơ mà linh động, chim có dáng đang… thiền.

À, chùa có vắng đâu.

Thềm rêu trầm mặc sư chim
Bờ hang nắng dãi hấp him sư rùa
Hội còn xa lễ chửa mùa
Ðồi không núi quạnh một chùa hai sư!


Viết năm 2009








__________
(1) Trong
Du ký Việt Nam (gồm bài của nhiều tác giả đăng tạp chí Nam Phong 1917-1934), nxb. Trẻ, 2007.
(2) “Ðỗng” tức là động.
(3)
Những phát hiện mới về khảo cổ học 2002, nhiều tác giả, nxb. Khoa Học Xã Hội, 2002.
(4) Dẫn theo Nguyễn Quang Hà, sđd.
(5) Như trên.