Vũ Lăng đang là trung đoàn trưởng trung đoàn 98, đại đoàn 316. Mấy dòng nhật ký tóm tắt thật gọn cuộc cách mạng và cuộc kháng chiến:

“Có cách mạng mới có chúng ta ngày nay, chúng ta mới được sống cho ra sống. Chính vì thế mà từ ngày yêu nhau, chúng ta không hề làm vướng chân nhau, chúng ta lại luôn luôn khuyến khích nhau làm tròn nhiệm vụ”.

“Lũ chó dại (đốt) thóc cháy nghi ngút (…) Hàng đàn trâu bị chúng bắn chết (…) Thanh niên tình nghi có cảm tình với Chính phủ bị chọc tiết, phụ nữ bị (…) thay nhau hãm hiếp (...) Dân bỏ bản (...) cối giã gạo được đem theo (...) ra sức làm gạo để nuôi bộ đội đánh giặc (…) Bên cạnh những hố bom, hố đại bác, những vườn rau cải vẫn xanh tươi (…) Một cây đào ở góc bản đang trổ hoa (...) Ngoài này là thế giới tươi sáng (…) Điện Biên hiện tại (…) là tù ngục tăm tối mà chính giặc đã tạo ra, tự giam hãm mình (...) nhưng mai kia (...) ngoài này trong ấy sẽ lại là một”.

(Thu Tứ)



Vũ Lăng, “Nhật ký Điện Biên Phủ 30-1-1954”




Đêm 30 tháng 1 năm 1954

Vừa chuyển quân đến vị trí mới (…)

Gió lạnh lùa vào trong lều, làm ngọn nến bạt đi muốn tắt. Mình dừng bút lại xoa tay cho đỡ cóng, hé bạt nhìn ra ngoài trời. Tiếng động cơ máy bay của địch vẫn rền rĩ trên không. Vòm trời sáng như trăng rằm vì pháo dù sáng. Thỉnh thoảng đại bác của nó lại hốt hoảng vang lên từng loạt. Thật là lũ chó sủa càn (…)

Xung quanh mình, đồng đội vẫn ngáy đều đều, say sưa với giấc ngủ ngon (…)

Viết nốt thư cho em (…) Tin chắc chắn sẽ về (…) Có cách mạng mới có chúng ta ngày nay, chúng ta mới được sống cho ra sống. Chính vì thế mà từ ngày yêu nhau, chúng ta không hề làm vướng chân nhau, chúng ta lại luôn luôn khuyến khích nhau làm tròn nhiệm vụ (…)

Gửi em cả mấy bông hoa và búp lá đào hái ở một bản vắng một chiều hành quân. Dân bản đã sơ tán vào rừng để tránh bom đạn (…) Những bếp tro tàn còn trơ lại mấy gộc củi cháy dở càng gợi thêm cái lạnh lẽo của một chiều rét mướt cuối năm. Mấy ngôi nhà xiêu vẹo tung mái vì pháo địch (...) những cái cột đầy mồ hóng (...) vẫn cố đứng vững trước những cơn gió thổi mạnh (...) những chõ đồ xôi rơi lỏng chỏng dưới gầm sàn, một chiếc nôi trẻ vướng vào khung cửa dốc ngược lên treo lủng lẳng. Từ ngày giặc lên đây, bao nhiêu bản quanh vùng đã bị tàn phá như thế (...)

Trong những ngày bám sát đánh địch thọc ra quanh Điện Biên, không ai không nghiến răng căm giận vì hoặc chính mắt nhìn thấy hoặc nghe đồng bào chạy thoát kể lại cảnh tàn sát, hiếp chóc, phá hại của lũ chó dại điên cuồng. Những cây thóc cháy nghi ngút, hết ngày này sang ngày khác. Hàng đàn trâu bị chúng bắn chết, chỉ lấy những miếng ngon nhất để ăn, còn vứt lại đầy đồng cho hôi thối, cấm dân không được ăn. Thanh niên tình nghi có cảm tình với Chính phủ bị chọc tiết, phụ nữ bị chúng nó thay nhau hãm hiếp (...)

(Nhưng) sức sống của dân tộc vẫn vươn lên mạnh mẽ không cùng! (...) Dân bỏ bản sơ tán (...) những chiếc cối giã gạo được đem theo vào lán (...) ra sức làm gạo để nuôi bộ đội đánh giặc. Hàng ngày, tiếng chày giã gạo vang lên với tiếng cười đùa của trẻ thơ, tiếng ơi ới gọi lợn, gọi gà về ăn của phụ nữ, tiếng mõ trâu lốc cốc... Lòng người lính ấm hẳn lên, rộn hẳn lên trong chiều lạnh! (...) Tiếng chày giã gạo đều đều thật là bình thản, lấn hẳn tiếng đạn pháo giặc rít điên cuồng (...) Tiếng chày giã gạo hòa theo tiếng bước chân bộ đội đang tiến về phía kẻ thù, đánh thành vòng đai sắt quanh chúng nó. Những tiếng chày giã gạo thúc giục anh bộ đội tranh thủ chuẩn bị đầy đủ nhưng nhanh chóng để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Điện Biên cho chày cối lại được trở về với bản (...)

Bên cạnh những hố bom, hố đại bác, những vườn rau cải vẫn xanh tươi. Ngồng hoa cải vẫn vươn lên với cụm hoa vàng bên những hoa thuốc phiện tím dịu dàng trắng trong. Một cây đào ở góc bản đang trổ hoa, những bông hoa hàm tiếu màu hồng tươi (...) Ngoài này là thế giới tươi sáng, là mùa xuân hoa nở. Điện Biên hiện tại chằng chịt dây thép gai, đầy công sự lở loét, là tù ngục tăm tối mà chính giặc đã tạo ra, tự giam hãm mình (...) nhưng mai kia (...) ngoài này trong ấy sẽ lại là một (...)


(Trong
Thượng tướng Vũ Lăng – Từ một quyết tử quân, nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2005)