Thu Tứ



Vũ Hạnh nghĩ về văn hóa Việt Nam




Mọi người biết cũng lâu rồi. Tác giả sách Người Việt cao quý đích thị là một người Việt. “Mèo khen mèo dài đuôi”! Chẳng biết loài mèo đuôi có dài đặc biệt hay không, chứ người Việt Nam về văn hóa tinh thần chắc chắn có ưu tú. Bình thường, biết mình hơn người thì để trong lòng thôi, nói ra sao tiện. Nhưng hoàn cảnh nước Việt Nam lúc ấy có bình thường đâu. Ngay sau khi chia hai đất nước ta, ở Miền Nam ngoại bang đã lập tức tiến hành xâm lăng văn hóa với sự hợp tác của một số trí thức Việt vong bản. Hơn mười năm sau, do diễn biến quân sự, mặt trận văn hóa trở nên đặc biệt khẩn trương.

“Vào khoảng tháng tư năm 1965, tôi được gọi ra mật khu Hố Bò học tập tình hình. Bấy giờ chính phủ Hoa Kỳ chuẩn bị đổ quân ào ạt vào Miền Nam để cứu nguy cho chính quyền tay sai đang hồi rệu rã. Khu ủy nhận định rằng sự việc ấy nhất định sẽ làm tổn thương tinh thần dân tộc Việt Nam. “Lúc này, viết cái gì đó đề cao dân tộc là cách chống Mỹ tốt nhất của người cầm bút”. Lời đồng chí Trần Bạch Đằng khuyên tôi (…)”.(1)

Như vậy, Người Việt cao quý ra đời như một thứ áo giáp giúp bảo vệ tinh thần dân tộc Việt Nam chống lại giặc văn hóa sắp ào ạt đổ vào theo giặc cầm súng.

*

Về quá trình “may giáp”, nhà văn Vũ Hạnh cho biết “đoạn đầu tôi phải đăng thử trên tờ nhật báo Đất Tổ, sau đó dò xem phản ứng người đọc, thấy tác dụng cao hơn cả mong chờ, liền viết tiếp trong tuần lễ đã xong”.

Viết nhanh như thế, mà lại không phải do một người chuyên nghiên cứu về văn hóa Việt Nam… Tác giả ngỏ lời khiêm tốn: “tập sách nhỏ bé này (…) còn quá xa (…) tác phẩm nghiên cứu, biên khảo”. Thiết tưởng ở đây xa là về phương pháp, chứ còn về kết luận thì Người Việt cao quý rất gần với những công trình nghiên cứu văn hóa dân tộc dày dặn và công phu. Đại khái, sách trình bày một cái nhìn trực giác, toàn thể, hướng về tinh thần của đối tượng hơn là chi tiết. Cái nhìn ấy cơ bản có thấy được đúng bản sắc văn hóa Việt Nam.

Việc trình bày ở một số chỗ có lẽ vượt quá mức đậm đà. Người viết cũng biết thế: “Tôi yêu quý và tự hào về dân tộc Việt Nam (…) nói lớn lên điều đó với đồng bào mình trong sự say sưa, với ít hay nhiều cường điệu. Có đam mê nào mà không cường điệu?”. Dĩ nhiên. Hơn nữa, dẫu là chỗ cường điệu nhất trong sách này thì cũng chưa tới gần được cái mức chủ quan của những kẻ tự cho văn hóa mình là đáng để cả nhân loại noi theo, mình có cái quyền được dùng đến thậm chí vũ lực để “thay đổi chế độ” ở đất nước khác! Hừ, ai còn lạ gì cái lối Tây phương lập tức chụp cái mũ sô-vanh lên đầu bất cứ ai có hành động chống lại thái độ cực kỳ sô-vanh của chính mình! Không người Việt Nam hiểu biết nào đọc Người Việt cao quý mà nên thấy áy náy về những chỗ tác giả cường điệu. Nên nhận ra là thế, nhưng không nên áy náy. Đây là tâm lý chiến quyết liệt chống lại xâm lăng văn hóa ào ạt, chứ không phải là bàn luận văn hóa giữa thời đất nước vắng bóng dáng giặc.

Nói cho chính xác, “sự say sưa”, “đam mê” còn dẫn đến vài giải thích, suy diễn, đánh giá hiện tượng văn hóa mà có lẽ hơi khó được chia sẻ rộng rãi. Nhưng cái hoàn cảnh viết “trong (chỉ hơn) tuần lễ đã xong” đâu có thuận lợi cho việc ngẫm đi nghĩ lại.

*

“Người Việt cao quý” là người như thế nào?

Họ có “tinh thần thiết thực”. Họ “quân bình đặc biệt (…) chấp nhận (…) được mọi quan niệm, dung hòa được mọi ý kiến dị đồng”. Họ “mềm dẻo lạ thường (…) mềm dẻo mà cương quyết (…) khuất phục mà kiêu hãnh (…) uyển chuyển để tự tồn”. Họ “có cái khả năng chế hóa đặc biệt”. Họ “chiến thắng (…) không (…) hân hoan tột độ (…) chiến bại (…) không (…) bi đát tột cùng”. Họ “hiếu hòa (…) không xem (…) chém giết là vinh quang”. Họ “có một ý thức luân lý hết sức sâu xa”. Họ “không có đầu óc bài ngoại”. Họ “không (…) kỳ thị (…) dân tộc (…) hoặc chủng tộc”. Họ “thực ra chỉ có mỗi sự kỳ thị duy nhất, là kỳ thị về phẩm chất luân lý trong mỗi con người, tức là phân biệt kẻ xấu người tốt trong đạo ăn ở (…) mọi sự phê phán (…) đều quy về (…) nhân nghĩa (…) tình nghĩa”.

Người ấy nói thứ tiếng nói ra sao? “(Tiếng Việt) là tiếng nói của cảm xúc (và cảm giác) (…) khả năng tượng thanh, tượng hình có lẽ hơn tiếng nào hết trên thế giới (…) chỉ có thể hiểu hoàn toàn trong những câu nói (…) không thua kém gì ngôn ngữ Trung Hoa (…) có thể (…) vượt hẳn (…) về mặt nghệ thuật”.

Người ấy đối xử với phụ nữ có gì đặc biệt chăng? “Phụ nữ Việt Nam (…) không bị gò ép lệ thuộc như phụ nữ Trung Hoa thời xưa (…) Phần nhiều đàn bà có một vị trí quan trọng, nhiều khi quyết định ở trong gia đình (…) (Phụ nữ) đóng góp (to lớn vào) sự nghiệp chung (của dân tộc)”

Về văn hóa Việt Nam, dĩ nhiên lâu trước sách Người Việt cao quý đã có sách Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh, sách Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên và không ít phát biểu rời, chẳng hạn của Nguyễn Đình Thi. Ngay ở Miền Nam, cùng thời với Vũ Hạnh cũng có một số người cầm bút từng trình bày ý kiến về chủ đề này. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung những tác phẩm Vũ Hạnh phổ biến trước Người Việt cao quý và vào lời kể của nhà văn về hoàn cảnh viết NVCQ – bắt đầu khoảng một tuần lễ sau khi được “khuyên” và hoàn thành trong chỉ hơn một tuần –, ta phải nghĩ rằng những nhận xét vừa nêu trên không phải là của tác giả khác đã được Vũ Hạnh tích lũy dần hay sưu tầm hỏa tốc, mà cơ bản đã bộc phát từ tiềm thức của chính ông – một người Việt Nam có cái trực giác đúng về văn hóa dân tộc mình. Vì sự thật chỉ có một, nên hễ nghĩ đúng thì “chí lớn gặp nhau” với những người khác cũng nghĩ đúng, thế thôi. Trong nửa thế kỷ sau năm 1965, những sự thật căn bản về văn hóa Việt Nam rồi sẽ được xác nhận đi xác nhận lại bởi nhiều tác giả nữa, nổi bật nhất là trong những chuyên khảo quy mô như Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam – tìm tòi và suy ngẫm của Trần Quốc Vượng, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm v.v.

Sách Người Việt cao quý là một biểu dương mạnh mẽ của sức mạnh của trực giác. Trong số những điều nhà văn Vũ Hạnh cảm thấy về văn hóa Việt Nam, có lẽ chúng tôi lấy làm thú vị nhất cái nhận định rằng “Tiếng nói của họ không thua kém gì ngôn ngữ Trung Hoa (…) có thể (…) vượt hẳn (…) về mặt nghệ thuật”. Bao nhiêu người đã ca ngợi tiếng Việt rồi, nhưng hình như đến tận bây giờ vẫn chưa có ai đặt vấn đề so sánh cụ thể như thế. Chúng tôi không dằn được ý muốn đi luôn bước cuối cùng, tức khẳng định rằng, với từ vựng hết sức phong phú từ gợi cảm, sở hữu rất nhiều hư tự, và với ngữ pháp uyển chuyển có khả năng liền da liền thịt từ và từ lại với nhau thành thứ lời toàn thể, sinh động, hữu cơ, tiếng Việt chắc chắn “vượt hẳn” tiếng Tàu “về mặt nghệ thuật”.(2)

*

Trực giác vẫn hay gợi cho ta những liên kết mà suy luận không thể nào đưa ta tới được. Trong phần đầu của sách Người Việt cao quý, nhà văn Vũ Hạnh đã xem tướng mặt người Việt Nam – cụ thể, mắt và môi – mà đưa ra nhận định đánh giá rất quả quyết về văn hóa Việt Nam:

“Mắt người Việt (…) tinh anh (…) sắc sảo tinh anh (…) Cái nhìn (của họ làm người nhìn họ phải nghĩ) “Đây không phải dân tộc tầm thường” (mà là) “một dân tộc ưu hạng có nền văn minh riêng biệt” (…) Cái nhìn của người Việt Nam (…) có chiều sâu thẳm của nền văn minh riêng biệt (…) Ở trên khuôn mặt (…) đôi mắt, đôi môi là đáng lưu ý hơn cả (…) Nụ cười Việt (khiến) người ta đoán thấy một sự nhạy cảm lạ lùng”.

Nhà văn liên hệ “ánh mắt và nụ cười” của từng cá nhân với “tiềm thức cộng đồng (…) di sản (…) kết quả của bao nhiêu đời sinh hoạt (…) bao nhiêu nỗi thăng trầm”.

Chúng tôi cũng tin rằng có cái mối liên hệ như thế. Nhưng nó thành hình như thế nào nhỉ? Hẳn là “bao nhiêu đời sinh hoạt” tạo nên một không gian văn hóa đặc thù, rồi không gian văn hóa tác động ảnh hưởng đến tất cả những cá nhân lớn lên trong nó. Không phải chỉ ảnh hưởng kín đáo đến bên trong, đến tính tình thôi đâu. Mà đến cả bên ngoài, tạo ra vẻ riêng cho ánh mắt của ta, nụ cười của ta! Kỳ dị hơn nữa, hình như văn hóa sau không biết bao nhiêu thời gian có thể phần nào được ghi vào bộ mã di truyền, khiến cho người thuộc các nòi giống khác nhau ngay từ khi còn rất bé đã có ánh mắt dễ dàng phân biệt!

*

Trong hồi ký in năm 1905, cựu Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đưa ra nhận xét: “Phải sang đến tận Nhật Bản người ta mới thấy được một giống dân tương xứng (...) Cả hai giống người Việt và Nhật (...) đều thông minh, chăm chỉ và can đảm (...) Người Việt (...) vượt xa các dân khác (ở Ðông Nam Á)”.(3)

Thế là “trăm miệng một lời”. Cả chuyên gia lẫn người không chuyên môn, cả người Việt Nam lẫn người nước ngoài, đều thấy ta là “một dân tộc ưu hạng”.

Chắc ai đó vừa nảy ý: cứ chịu khó sưu tầm “hàng ngoại” như vừa dẫn trên mà đan chen vào với những sợi “nội hóa” thì sẽ có loại áo giáp bảo vệ tinh thần dân tộc tuyệt vời. Giáp có sợi Tây đem đỡ đạn Tây, còn gì bằng! Vâng, giáp thế thì nhất rồi, nhưng e bây giờ chẳng còn bao nhiêu người thấy mình cần mặc.

Năm 1965 nhà văn Vũ Hạnh báo động việc một số người Việt Nam học đòi thứ “văn minh hình thức, thiên về vật chất” và kêu gọi “chống lại tất cả hiện tượng suy đồi, thoái hóa”. Năm 2015, cuộc xâm lăng văn hóa từ Tây phương lần này mới thực đáng sợ. “Đạn” nguy hiểm vô cùng, lại nhờ những phương tiện truyền thông tối tân mà bắn xa khắp quê hương ta, bắn sâu vào tận tim óc nhân dân ta, bắn ngày bắn đêm, không một ngày nghỉ đêm nghỉ! Bị tiến công hết sức ác liệt, nhưng do vắng lòng căm thù, một số người Việt Nam không sao thấy được rằng tinh thần mình đang bị tổn thương, thậm chí trước vật chất hào nháng của kẻ bắn còn nhầm tưởng rằng mưa đạn ấy là tinh hoa văn hóa nhân loại cần khẩn trương tiếp thu để “hội nhập vào cộng đồng quốc tế”!!! (Cộng đồng quốc tế nào? Chỉ có Tây phương đang khủng hoảng mà không tự biết vẫn hung hăng tìm cách đồng hóa cả thế giới!)

Thực ra, “tất cả giá trị cao quý (…) dồi dào trong dân tộc” hồi năm 1965, hiện nay có lẽ cơ bản cũng vẫn còn khá dồi dào. Vấn đề là làm sao đây để phát huy chúng trong hoàn cảnh mới?...


Viết tháng 9-2015
In trong sách
Cảm nghĩ miên man, q. II, 2017












________
(1) Tất cả các chỗ trích dẫn tác phẩm đều từ ấn bản năm 1999 của nxb. Mũi Cà Mau.
(2) Xem các bài “Tương lai từ vựng tiếng Việt”, “Tương lai ngữ pháp tiếng Việt”, “Thơ nhạc, thơ tranh” trong sách
Cảm nghĩ miên man (2015, TT).
(3)
L’Indochine francaise, nxb. Vuibert et Nouy, Pháp, 1905, dẫn theo Phạm Cao Dương, Lịch sử dân tộc Việt Nam, nxb. Truyền Thống Việt, Mỹ, 1987.