“Đường kéo pháo mở mới hoàn toàn (...) chạy (...) qua đỉnh Pha Sông cao 1.150 mét (...) Ta rải bộ đội suốt dọc đường, làm xong trong 20 giờ! (...) Khi đi thăm (...) tôi cảm thấy băn khoăn. Con đường khá dài, nằm trên địa hình hiểm trở, nhiều dốc cao, vực sâu (...) Sau bảy đêm, pháo vẫn chưa tới vị trí quy định. Thời gian nổ súng (...) phải lui lại năm ngày. Chúng ta chưa lường hết trở ngại (...) Trong những ngày qua, có những cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh để cứu pháo khỏi lăn xuống vực sâu”. “Đâu đây đứt pháo xích kêu giòn / Liệt sĩ tên còn xanh núi non” (“Pha Đin”, Quang Dũng).

“Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói với tôi sẽ phải đột phá liên tục ba lần mới vào được tung thâm. Đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ, đảm nhiệm mũi thọc sâu, hoàn toàn giữ im lặng”. Một người tỏ ý lo lắng, người kia chắc cũng thấy không chắc ăn...

“Hai ngày trước khi nổ súng, đồng chí Phạm Kiệt (...) nhận xét: “Pháo của ta đều đặt trên trận địa dã chiến, địa hình rất trống trải, nếu bị phản pháo hoặc máy bay đánh phá, sẽ khó tránh tổn thất (...) Cục 2 (báo cáo) quân địch đã có thêm nhiều xe tăng và trên bốn chục khẩu pháo 105 ly và 155 ly. Ở nhiều cứ điểm, địch đã xây dựng công sự kiên cố (...) những hàng rào dây thép gai và bãi mìn (...) có nơi đã rộng tới hơn 100 mét, thậm chí 200 mét. Ngày 24 (...) địch (…) tăng cường cho Điện Biên Phủ thêm một tiểu đoàn”. Sốt ruột quá sức, trời ơi!

“Tôi cảm thấy như cả tháng đã trôi qua. Nhưng tính lại từ khi trao nhiệm vụ chiến đấu tới đó, chỉ mới có mười một ngày. Mỗi ngày, tôi càng nhận thấy rõ là không thể đánh nhanh được. Lời Bác dặn trước lúc lên đường và nghị quyết Trung ương hồi đầu năm lại văng vẳng bên tai: “Chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn!”. Đêm ngày 25 tháng 1 năm 1954, tôi không sao chợp mắt được. Đầu đau nhức. Đồng chí Thùy, y sĩ, buộc trên trán tôi một nắm ngải cứu”. Chiều hôm sau là nổ súng rồi, trời ơi!

“Tôi cảm thấy phải (...) chuyển từ phương án “đánh nhanh thắng nhanh” sang phương án “đánh chắc tiến chắc” (...) Phải họp ngay Đảng ủy Mặt trận... Suốt đêm tôi chỉ mong trời sáng”. Toàn quân đã sẵn sàng lao tới, mà bảo phải lui! Pháo đã vô cùng vất vả kéo vào, mà bảo phải kéo ra! Nhưng “tôi” sẽ bảo.

(Thu Tứ)



Võ Nguyên Giáp, “Nắm ngải cứu trên trán...”



Sở chỉ huy chiến dịch từ cây số 15 chuyển vào một khu rừng ngang cây số 62 gần bản Nà Tấu.

Các đồng chí trong Bộ chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận chia nhau đi kiểm tra và đôn đốc chuẩn bị chiến đấu. Với quyết định đánh nhanh, vấn đề là thời gian. Chậm một ngày, tập đoàn cứ điểm lại rắn thêm, và địch có thể tăng quân.

Khó khăn lớn lúc này là đưa được pháo vào trận địa. Khi tất cả các khẩu pháo đã vào vị trí và sẵn sàng nhả đạn, trận đánh mới có thể bắt đầu. Chúng ta quyết định dành cho kẻ địch 2.000 quả pháo 105 ly trong trận mở màn. Khi nghe phổ biến điều này, cán bộ hết sức phấn khởi, coi như sẽ có một tiếng sét giáng xuống đầu quân địch!

Hơn bốn chục vị trí nằm trong ba phân khu của tập đoàn cứ điểm, cũng như các trận địa pháo, đã xuất hiện đầy đủ trên sơ đồ vẽ tay của cơ quan tham mưu chiến dịch. Chúng ta chỉ mới kiếm được loại bản đồ cũ tỉ lệ 1/100.000, thiếu rất nhiều chi tiết.

Trong một tháng “Mở đường thắng lợi”, bộ đội và thanh niên xung phong đã làm nên một việc thần kỳ. Con đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ, dài 82km, trước đây chỉ rộng một mét, đã được nới rộng và sửa sang khiến xe kéo pháo có thể có thể vào cách Điện Biên 15km. Từ đây, pháo sẽ được kéo bằng tay vào các trận địa. Đường kéo pháo mở mới hoàn toàn, rộng ba mét, chạy từ cửa rừng Nà Nham, qua đỉnh Pha Sông cao 1.150 mét, xuống Bản Tấu, đường Điện Biên Phủ - Lai Châu, tới Bản Nghìu. Để bảo đảm bí mật, nó phải được ngụy trang toàn bộ, không cho máy bay trinh sát phát hiện. Ta rải bộ đội suốt dọc đường, làm xong trong 20 giờ! Việc tiếp theo là đưa lựu pháo và cao xạ pháo vào vị trí bắn. Nhiệm vụ được trao cho Đại đoàn 351 và Đại đoàn 312, dự kiến hoàn thành trong ba đêm (…)

Khi đi thăm đường kéo pháo, tôi cảm thấy băn khoăn. Con đường khá dài, nằm trên địa hình hiểm trở, nhiều dốc cao, vực sâu. Tôi thấy rất khó đưa pháo vào trận địa đúng thời gian dự kiến. Và việc tiếp đạn khi chiến đấu sẽ rất khó khăn.

Sau bảy đêm, pháo vẫn chưa tới vị trí quy định. Thời gian nổ súng dự định ngày 20 tháng 1 năm 1954, phải lui lại năm ngày. Chúng ta chưa lường hết trở ngại khi dùng sức người kéo những khối thép nặng hai tấn qua những dốc cao 30, 40 độ, có chỗ lên tới 60 độ. Trong những ngày qua, có những cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh để cứu pháo khỏi lăn xuống vực sâu (…)

Từ hội nghị Thẩm Púa tới khi đưa pháo vào trận địa đối với tôi là một quãng thời gian rất dài. Nhiều đêm thao thức. Suy tính, cân nhắc rất nhiều lần, vẫn chỉ tìm thấy rất ít yếu tố thắng lợi. Tôi căn dặn các phái viên đi nắm tình hình, thấy bất cứ điều gì đáng chú ý đều phải báo cáo kịp thời. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói với tôi sẽ phải đột phá liên tục ba lần mới vào được tung thâm. Đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ, đảm nhiệm mũi thọc sâu, hoàn toàn giữ im lặng (...)

Tôi cảm thấy sốt ruột vì các chiến trường phối hợp chưa nổ súng. Nếu mặt trận chính nổ súng trước trong khi quân cơ động địch còn chưa phân tán nhiều, Na-va có thể tập trung lực lượng đối phó ở Điện Biên Phủ! Như vậy sẽ khó khăn cho việc thực hiện ý đồ chiến lược của ta. Tôi đặc biệt băn khoăn về Liên khu Năm (...) Ngày 21 tháng 1 năm 1954, tôi được tin Na-va đã tung khoảng 15 tiểu đoàn mở cuộc tiến công vào nam Phú Yên. Na-va tiếp tục phân tán quân cơ động là điều có lợi cho ta. Nhưng không biết Liên khu Năm đối phó thế nào? Ngày 22, Cục trưởng Cục Tác chiến Trần Văn Quang báo cáo: Liên khu Năm điện ra cho biết tiếp tục tiến hành kế hoạch đã định, chỉ để lại lực lượng vũ trang địa phương đối phó với cuộc tiến công tại vùng ven biển và đồng bằng, đại bộ phận chủ lực đã bắt đầu tiến lên Tây Nguyên. Trên đất bạn, mũi thọc sâu của 436 đã tiến xuống Hạ Lào, đang tích cực chuẩn bị nổ súng sớm (...)

Sang ngày thứ chín, hai ngày trước khi nổ súng, đồng chí Phạm Kiệt, Cục phó Cục Bảo vệ, theo dõi việc kéo pháo ở phía tây, đề nghị gặp tôi qua điện thoại. Anh Kiệt đưa ra nhận xét: “Pháo của ta đều đặt trên trận địa dã chiến, địa hình rất trống trải, nếu bị phản pháo hoặc máy bay đánh phá, sẽ khó tránh tổn thất. Một số pháo vẫn chưa kéo được tới trận địa” (…)

Theo quy định, đồng chí Cao Pha, Cục trưởng Cục 2, phản ánh tình hình địch với chỉ huy trưởng chiến dịch hàng ngày, khi có những hiện tượng đột xuất như địch tăng quân, rút quân thì phải báo cáo ngay. Tin tức thu từ ba nguồn: các đơn vị đang bao vây, trinh sát của Bộ, qua trao đổi vô tuyến điện của địch. Tôi được biết ở Mường Thanh, quân địch đã có thêm nhiều xe tăng và trên bốn chục khẩu pháo 105 ly và 155 ly. Ở nhiều cứ điểm, địch đã xây dựng công sự kiên cố. Tôi đặc biệt chú ý hệ thống công sự phụ, những hàng rào dây thép gai và bãi mìn địch không ngừng mở rộng mỗi ngày, có nơi đã rộng tới hơn 100 mét, thậm chí 200 mét. Ngày 24, Cục 2 báo cáo, trong ngày địch vừa tăng cường cho Điện Biên Phủ thêm một tiểu đoàn, đưa lực lượng lên tới 10 tiểu đoàn (thực tế lúc đó địch đã có 12 tiểu đoàn). Những cứ điểm phía tây, nơi Đại đoàn 308 sẽ đột phá, tuy không mạnh như một số cao điểm, nhưng nằm trên cánh đồng trống, bộ đội không có địa hình ẩn náu, địch dễ sử dụng xe tăng, pháo binh, máy bay và lực lượng phản kích đối phó. Đồng chí Hiếu nhận xét: “Công tác tư tưởng mới nhắc nhiều tới quyết tâm mà ít bàn cách khắc phục những khó khăn trong trận đánh” (...)

Sau nhiều ngày đêm chật vật, những khẩu pháo mới tới gần các trận địa dã chiến. Thời gian nổ súng được quyết định là 17 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1954. Gần ngày N., một chiến sĩ của Đại đoàn 312 không may bị địch bắt. Bộ phận thông tin kỹ thuật của ta nghe địch thông báo cho nhau qua điện đài về ngày giờ tiến công của bộ đội ta. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định hoãn thời gian nổ súng 24 tiếng. Và phân công cán bộ đi nắm lại tình hình sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị. Những tài liệu của phương Tây sau này cho biết địch nắm được thời gian nổ súng của ta là do thu được một số bức điện của cơ quan cung cấp mặt trận.

Tôi cảm thấy như cả tháng đã trôi qua. Nhưng tính lại từ khi trao nhiệm vụ chiến đấu tới đó, chỉ mới có mười một ngày. Mỗi ngày, tôi càng nhận thấy rõ là không thể đánh nhanh được. Lời Bác dặn trước lúc lên đường và nghị quyết Trung ương hồi đầu năm lại văng vẳng bên tai: “Chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn!”.

Đêm ngày 25 tháng 1 năm 1954, tôi không sao chợp mắt được. Đầu đau nhức. Đồng chí Thùy, y sĩ, buộc trên trán tôi một nắm ngải cứu.

Tôi đã hiểu vì sao mọi người đều muốn đánh nhanh (...) Lý do chính là e thời gian chuẩn bị kéo dài (...) tập đoàn cứ điểm ngày càng mạnh (...) ta mất cơ hội tiêu diệt địch (...) Đặc biệt, mọi người đều tin vào khí thế của bộ đội (...) Nhưng (...) Không phải chỉ với (...) tinh thần cao mà lúc nào cũng chiến thắng (...) Chúng ta cũng không thể giành chiến thắng với bất cứ giá nào, vì phải giữ gìn vốn liếng cho cuộc chiến đấu lâu dài.

Khi nghe anh Thái nói lần đầu ở Tuần Giáo về khả năng đánh nhanh thắng nhanh, tôi đã cảm thấy làm như vậy là mạo hiểm. Từ đó đến nay, tình hình địch đã thay đổi nhiều. Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có (...)

Ba khó khăn hiện lên rất rõ.

Thứ nhất, bộ đội chủ lực ta (...) (ngay) ở Nà Sản (tương đối yếu hơn hẳn) vẫn có những trận đánh không thành công, bị thương vong nhiều.

Thứ hai, trận này (...) đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà lại chưa qua diễn tập. Vừa qua, có trung đoàn trưởng xin trả pháo vì không biết phối hợp thế nào!

Thứ ba (...) Trận đánh sẽ diễn ra trên một cánh đồng dài 15km và rộng 6-7km...

Tất cả những khó khăn đó đều chưa được bàn bạc kỹ và tìm ra cách khắc phục.

Nhưng giải quyết ra sao bây giờ? Pháo đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong. Quyết định hoãn trận đánh một lần nữa sẽ tác động tới tinh thần bộ đội như thế nào?...

Tôi cảm thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh thắng nhanh” sang phương án “đánh chắc tiến chắc”. Thời gian chuẩn bị sẽ kéo dài. Ngoài công tác chuẩn bị đánh địch ở Điện Biên Phủ, bộ đội ta cần có những hoạt động tạo nên bất ngờ mới cho địch. Tôi nghĩ trước mắt sẽ điều ngay một cánh quân sang Thượng Lào thu hút quân địch về hướng này, có thể quét sạch hàng lang Điện Biên Phủ - Luông Pha Băng chúng mới lập ở lưu vực sông Nậm Hu. Và cần nhắc Liên khu Năm triển khai nhanh chiến dịch ở Tây Nguyên.

Phải họp ngay Đảng ủy Mặt trận... Suốt đêm tôi chỉ mong trời sáng.


(Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hồi ký
Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử in lại trong Tổng tập hồi ký, nxb. Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2006, tr. 921-925)