Đào Duy Anh



Năm 1943 Dương Quảng Hàm tìm hiểu chữ Nôm chỉ mới biết đến bia Hộ Thành Sơn (1343) (xem
gocnhin.net số 1).

Năm 1975 Ðào Duy Anh cho hay chứng tích chữ Nôm xưa nhất đã tìm được là một tấm bia ở Vĩnh Phú, khắc năm 1210.

Từ năm 1975 đến năm 2009, có phát giác đáng kể nào về tuổi của chữ Nôm chăng?

(Thu Tứ)



Văn bản Nôm xưa nhất



Trước kia hễ nói đến chứng tích xưa nhất của chữ Nôm, người ta đều chỉ nói đến tấm bia Hộ Thành Sơn (tức núi Dục Thúy) ở Ninh Bình, mà cách đây gần sáu chục năm nhà học giả người Pháp H. Maspéro đã nhắc đến trong một chú thích của bài: “Nghiên cứu ngữ âm học lịch sử về tiếng Việt Nam”(1) và nói rằng trên tấm bia ấy ông thấy có khoảng hai chục chữ Nôm ghi tên các làng xóm. Ông không cho biết những chữ Nôm ấy là những chữ gì, mà chính cái bia ấy cũng chưa ai được thấy nó. Trong mớ hơn hai vạn tấm thác bản văn bia của Thư viện Khoa học Xã hội, chúng ta chưa tìm ra thác bản của tấm bia ấy, mà có người đến núi Dục Thúy để tìm thì cũng chẳng thấy tấm bia ấy ở đâu. Song tấm bia ấy dù có còn hay không thì điều ấy cũng không quan trọng gì, vì đó không phải là chứng tích xưa nhất của chữ Nôm. Chúng ta sẽ thấy có chứng tích của chữ Nôm xưa hơn, thuộc về thời nhà Lý.

Trong báo Tổ quốc số 3 năm 1963, ông Trần Huy Bá có giới thiệu một cái chuông đồng của chùa Vân Bản ở Ðồ Sơn mà năm 1958 ngư dân vùng Ðồ Sơn mới vớt được ở đáy biển lên. Ông thấy trong những hàng chữ Hán khắc ở thành chuông có lẫn ba chữ Nôm là “xứ Ông Hà” (chúng tôi kiểm tra lại thì thấy chỉ là hai chữ “Ông Hà” chứ không có chữ “Xứ” (...)

Theo những hàng chữ ấy thì biết rằng (...) người xây dựng cảnh chùa (...) là (...) hai người (...) có công (...) trong việc xây dựng bốn cái tháp có tiếng ở thời Lý là tháp Báo Thiên (1057), tháp Ðồ Sơn (1058), tháp Cổ Châu (chùa Ðậu), tháp Xá Lỵ (chùa Khương Tự) (...) Những điều trên chỉ cho chúng ta biết rằng chùa Vân Bản có thể là có trước các tháp Báo Thiên và Ðồ Sơn, vì hai người ấy (...) có thể là đã ở chùa Vân Bản rồi, còn cái chuông (...) thì có thể được cúng ngay sau khi chùa được dựng xong, cũng có thể được cúng về sau nữa, không rõ về lúc nào. Ông Trần Huy Bá bằng cứ vào chữ Bính Thìn mà đoán rằng chuông được đúc vào năm Bính Thìn 1076 đời Lý Nhân Tôn. Chúng tôi không được thấy chữ niên hiệu ấy ở phó bản của chuông nên chưa có thể khẳng định về niên đại của chuông ấy. Song chúng tôi tưởng rằng nếu chuông không phải là được cúng ngay sau lúc dựng chùa mà là về sau nữa thì cũng không phải là xa thời hai người nói trên nhiều lắm, tức cũng vào khoảng giữa thời nhà Lý thôi.

Sau chuông đồng Vân Bản thì đến tấm bia chùa Tháp Miếu huyện Yên Lãng tỉnh Vĩnh Phú đề đầu năm 1210 đời Lý Cao Tôn là chứng tích xưa có nhiều chữ Nôm hơn nữa. Thác bản tấm bia này đã được chụp ảnh và xếp đặt trong tập I Văn bia của Thư viện Khoa học Xã hội (...) chúng tôi nhận thấy hơn hai chục chữ Nôm khác nhau.

(...)

Xem thế thì thấy rằng đến đời Lý Cao Tôn chữ Nôm đã được cấu tạo với qui cách có thể nói là đầy đủ rồi, suốt các triều đại sau qui cách ấy vẫn không hề thay đổi.

Vậy thì bài văn bia thời Lý này là chứng tích chữ Nôm đầy đủ xưa nhất mà chúng ta còn giữ được.


(Ðào Duy Anh,
Chữ nôm - nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, VN, 1975, tr. 11-18)





____________________
Nhan đề do người chọn tạm đặt.
(1)
BEFEO, XII (Tập san của Trường Viễn đông Bác cổ, tập XII). (ÐDA)