Ông Đờ Pu-vuốc-vin có thật, hay là Hồ Chủ tịch đã mượn một cái tên người nước ngoài để viết về nước mình cho tiện?

Dù sao, điều quan trọng là cái sự kiện được trình bày.

“Chúng ta thấy ở đây cả một nền văn minh (...) Những vết tích man rợ đã mất đi từ lâu (...) một xã hội thuần thục có tổ chức trong khi những người phương Tây còn ở tình trạng bán khai”.

Ngạc nhiên quá, có phải không, hỡi bao nhiêu là người Việt Nam đang sùng bái Tây!

Hết sức vắn tắt, lịch sử là thế này:

Tổ tiên của hầu hết người da trắng bây giờ không phải là người La-mã, mà là những dân tộc bán khai sống xa trung tâm của đế quốc La-mã. Trong suốt mười một thế kỷ từ ngày La-mã sụp đổ (khoảng 4 thế kỷ sau Ki-tô), ở châu Âu chỉ có những dân tộc bán khai này và một số người văn minh thoái hóa xuống mức bán khai. “Đêm dài Trung Cổ” vô cùng tối tăm. Năm 897 tòa thánh Va-ti-căng đã cho đào xác Giáo hoàng Formosus lên, đặt ngồi trên ngai để xét xử (có người sống đứng bên trả lời giùm!)! Năm 1252, Giáo hoàng Innocent IV chính thức cho phép tra tấn để bắt những người dị giáo nhận “tội” (châu Âu Trung Cổ nổi tiếng về những lối tra tấn cực kỳ dã man). Ở Tây-ban-nha, quan tòa dị giáo Torquemada (1420-1498) lập được thành tích trước sau chỉ riêng tay mình đã cho đốt sống khoảng 2.000 người! Về tổ chức cai trị thì “vua” ở châu Âu thời Trung cổ thực ra chỉ là một lãnh chúa lớn mà thôi.(1) Người da trắng mới bắt đầu trở nên, hay trở lại, văn minh chưa được 600 năm. Ngay cả sau khi sáng kiến ra phương pháp khoa học, ở châu Âu vẫn cứ dai dẳng tồn tại những biểu hiện văn hóa hết sức kém “mở mang”: vô số cuộc săn và xử “phù thủy” trong thế kỷ 16 và 17 đã khiến khoảng 200.000 người dân bị đốt sống!

Trong khi đó, tổ tiên dân tộc Việt Nam cách nay hai mươi mấy thế kỷ đã xây dựng được văn minh Đông Sơn là một nền văn minh có tinh thần mạnh mẽ đến nỗi tuy rồi ta bị Trung Quốc đô hộ hàng nghìn năm nhưng rút cuộc chẳng những vẫn không bị đồng hóa mà còn thêm quyết tâm giành lại độc lập! Năm 939 ta khởi nghĩa thành công, và chỉ ít lâu sau thì bắt đầu dựng lên nền văn minh Đại Việt rực rỡ. Vào cái khoảng bên châu Âu giai cấp cao nhất còn tin đạo Chúa một cách thật là “mê”, thì ở bên ta giới trí thức đã thấm nhuần sâu sắc minh triết của đạo Phật. Về chính trị, vua Đại Việt hoàn toàn không phải là lãnh chúa, mà là người đứng đầu một nhà nước dân tộc hẳn hoi.

Ta là người đã văn minh từ rất lâu mà nay để sống còn phải chuyển hóa văn minh, chứ không phải là người bán khai nay mới bắt đầu văn minh!

Trong khi chuyển hóa, ta phải giữ cái sự thể của người đã văn minh. Phải bình tĩnh học hay bỏ dở, không cắm đầu cắm cổ bắt chước. Và tuyệt đối không được rước tổ tiên người khác về thờ!
(đây ý nói về cái phong trào quý lấy quý để những món Âu cổ mà xem thường những món Việt cổ).

Trở lại với phát biểu của “ông Đờ Pu-vuốc-vin”. Thật là may quá cho dân tộc Việt Nam. Vào một thời điểm hết sức gay go, ta đã có được một người lãnh đạo hiểu biết sâu sắc cả dân tộc mình lẫn những kẻ đi xâm lược.

(Thu Tứ)

(1) Trần Quốc Vượng,
Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, 2000.



Hồ Chí Minh, “Cả một nền văn minh”




Ông Đờ Pu-vuốc-vin cũng viết: “Chúng ta thấy ở đây cả một nền văn minh, mọi thứ đều xây dựng từ lâu. Nghệ thuật (…) (cách tổ chức) quản lý nhà nước đều đã phát triển mạnh mẽ. Luật pháp, cổ phong, tôn giáo, văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hòa hợp với nhau, trải qua bao thế kỷ, đã được điều hòa và ngày càng hoàn hảo thêm. Những vết tích man rợ đã mất đi từ lâu, dân tộc này đã sống trong một xã hội thuần thục có tổ chức trong khi những người phương Tây còn ở tình trạng bán khai. Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa (…) không sợ gian khổ, (sẵn sàng) hy sinh (...) là những đặc điểm (...) hình thành từ bao thế hệ”.


(
Danh ngôn Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, nxb. Văn Học, 2011, tr. 29-30, dẫn Hồ Chí Minh toàn tập, nxb. Chính Trị Quốc Gia, 1995, tập 1 (1919-1924), tr. 425-426)