Dị thường hào kiệt!



Đặng Quý Địch, “Tăng Bạt Hổ”




Tăng Bạt Hổ tên thật là Tăng Doãn Văn, hiệu là Ðiền Bát, sanh năm Mậu Ngọ (1858) tại làng An Thường huyện Bồng Sơn phủ Hoài Nhơn tỉnh Bình Ðịnh (...)

Ông, tính người can trường, khí khái (...) võ giỏi (...) Năm 18 tuổi đầu quân (...) thăng đến Cai Cơ (...)

Ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (1885), kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị ban chiếu Cần Vương. Ðược tin này, ông cùng một số đồng chí (...) kéo lên nguồn Kim Sơn (nay thuộc quận Hoài Ân) chiêu mộ nghĩa binh lập chiến khu chống Pháp (...) Ông bắt liên lạc với (...) Bùi Ðiền lúc bấy giờ đang lập chiến khu trong núi Chớp Chài (Phù Mỹ) (...)

Tháng 8 năm Bính Tuất (1886) (...) Nguyễn Thân (...) kéo quân vào Bình Ðịnh (...) trú quân tại đồn Lại Giang (...)

Dò được tin này, ông (...) mật ước với (...) Bùi Ðiền cùng đem binh đang đêm tấn công vào đồn Lại Giang. Nhưng rủi thay, Bùi Ðiền lại lầm tưởng Lại Giang ra Lộc Giang nên đúng ngày giờ ước hẹn Bùi Ðiền đem quân đánh đồn Lộc Giang (nay thuộc xã Ân Tường) (...) còn ông đột kích Lại Giang. Bởi lực lượng phân tán nên hai cánh quân đều thất bại (...) ông bị mấy vết thương (...) phải trốn tránh nay làng này mai làng khác (...)

Mãi đến 5 tháng sau, các vết thương mới lành. Bấy giờ (...) lực lượng đã tan rã từ lâu (...) ông nghĩ chỉ còn cách cầu viện nước ngoài.

Tháng giêng năm Ðinh Hợi (1887) các đồng chí đưa ông (...) lên cao nguyên để tìm đường sang Xiêm. Khi ông vừa tới đèo Dốc Ðót (giáp giới An Khê), thì gặp một con cọp đứng chận giữa đường, mấy người theo ông ai cũng run như cầy sấy. Ông không một chút sợ hãi, hướng vào cọp bình thản nói: “Này chúa sơn lâm! Tôi đi đây là vì đại nghĩa chứ chẳng phải làm việc riêng tư. Xin ông tránh sang một bên để kẻ vong quốc này lên đường cho sớm” (...) cọp (...) tránh (...) cho ông và các bạn qua đèo. Từ đó, ông được các đồng chí gọi là Tăng Bạt Hổ.

Lên tới cao nguyên, ông chia tay mọi người, một mình ông vượt biên giới sang Lào rồi qua Xiêm.

Nước Xiêm thời bấy giờ tuy tránh được cảnh chiến tranh nhưng cũng đang bị (...) Anh và Pháp dòm ngó. Từ năm 1855 trở lại, vương triều Prajadhipok phải ký biết bao nhiêu hiệp ước bất bình đẳng với Anh, Pháp và các nước Tây phương khác mới được yên thân (...) Xiêm giữ mình còn e chưa nổi thì sức đâu mà giúp nước ta. Tuy vậy chuyến đi này đã mang đến cho ông và cho cách mạng Việt Nam một kết quả không ngờ. Số là những ngày lưu lạc trên đất Xiêm, ông đã đến thăm đồng bào ta đang làm ăn trong hai tỉnh U-đon và Khô-rạt (...) đem tình cảnh bi đát của nước nhà mà thuật cho họ nghe (...) ai cũng căm thù giặc Pháp (...) Thấy tinh thần yêu nước của Việt kiều khá cao, ông nảy ra ý định kết nạp họ thành những tổ chức hoạt động cho cách mạng. Nhờ có các cơ sở này mà sau đó, những nhà ái quốc nước ta sang Xiêm được kiều bào giúp đỡ tận tình (...)

Mấy tháng sau, ông rời Xiêm qua Tàu (...) đi khắp hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây để tìm đồng chí. Khi nghe tin Lưu Vĩnh Phúc (viên chủ tướng Cờ Ðen, người đã thắng trận Ô Cầu Giấy, giết được đại tá Henri Rivière) hiện đang ở Ðài Loan, ông tìm đến gặp Lưu định nhờ Lưu giúp cho mượn binh. Rủi thay, Ðài Loan vừa bị Nhật chiếm, quân Cờ Ðen tứ tán, Lưu bơ vơ (...) cái dĩ vãng oai hùng ngày trước (...) chỉ còn là vang và bóng.

(...) không thể cầu viện Trung Hoa vì quốc gia này đang bị liệt cường xâu xé, ông thấy chỉ còn có Nhật Bản có thể giúp ông hoàn thành tâm nguyện (...) Ông quyết định sang Nhật (...)

(...) sang đất Phù Tang (...) ông quyết chí cầu học để sau này đem tài năng phụ vụ quê hương (...) chọn học về binh nghiệp (...) bỏ ra hơn năm trời (mấy năm?) để học tiếng Nhật, rồi đội tên Nhật xin đăng vào hải quân Nhật (...)

(...) Ông (...) nổi tiếng (...) thiện chiến và can trường (...) đã chứng tỏ tài năng trong các trận thủy chiến ở Ðài Liên và Lữ Thuận trong cuộc Nhật - Nga chiến tranh xảy ra từ tháng 2 năm 1904.

Ngày ăn mừng chiến thắng Lữ Thuận, ông được hoàng gia ban thưởng huy chương và được dự yến do Minh Trị Thiên Hoàng thết đãi.

Ðể tưởng thưởng và khích lệ ông, một quân nhân hữu công, Nhật Hoàng đã tự tay ban cho ông một chung ngự tửu. Ông tiếp lấy uống cạn rồi bỗng ôm mặt khóc òa lên. Mọi người kinh ngạc, vây lấy ông mà hỏi nguyên nhân, ông ấm ức bày tỏ nỗi lòng:

“Tôi không phải người Nhật mà là người vong mạng Việt Nam, được bệ hạ tin dùng. Nay thấy quí quốc thắng Nga một cách vẻ vang làm giống da vàng cũng được hãnh diện lây, tôi nghĩ đến tình cảnh nước tôi nên không cầm được giọt lệ. Biết bao giờ nước tôi mới mở được một bữa tiệc như vầy!”

Nhật Hoàng không tiếc lời khen ngợi tấm lòng ái quốc của ông.(1)

Từ đó, ông không còn ở trong quân ngũ nữa mà nghiễm nhiên trở thành một chính khách Việt Nam hoạt động bên cạnh chính phủ Nhật. Các chính khách thời danh của Nhật như Khuyển Dưỡng Nghị, Ðại Ôi Trọng Tín đã dành cho ông nhiều cảm tình đặc biệt. Nhân đó ông ngỏ ý muốn cầu viện Nhật nhưng bấy giờ Nhật còn phải đương đầu với Nga, chưa rảnh tay nghĩ đến chuyện Ðông Nam Á. Khuyển Dưỡng Nghị và Ðại Ôi Trọng Tín khuyên ông nên nghĩ đến việc tự cường. Nhưng muốn tự cường, trước phải lo đào tạo nhân tài, họ đề nghị ông nên về nước phát động một phong trào Ðông du, đưa thanh niên sang Nhật cầu học. Hai ông còn hứa giúp đỡ du học sinh Việt Nam trong thời gian ở trên đất Nhật. Thấy lời khuyên hữu lý, ông về nước bí mật hoạt động.

Sau thời gian dài tìm đồng chí ở bốn phương, ngày về nước ông vui mừng vì được gặp nhà đại ái quốc Phan Bội Châu trong cuộc họp khoáng đại của Nghĩa Ðảng tại Quảng Nam vào hạ tuần tháng 10 năm Giáp Thìn (1904). Trong chuyến sang Nhật đầu tiên vào tháng giêng năm Ất Tị (1905), chính Phan Bội Châu đã nhờ ông hướng đạo.

Ðến tháng chạp năm này, ông lại từ Nhật về nước mang theo bài “Khuyến thanh niên du học” của Phan Bội Châu cổ động thanh niên sang Nhật (...) Trong dịp này ông liên lạc với các nhà ái quốc ở Bắc xúc tiến việc thành lập Ðông Kinh Nghĩa Thục.

Mùa đông năm Ðinh Mùi (1908), ông từ Bắc vào Trung vận động Ðông du. Ðến Huế, định quá giang ghe buôn vào Nam nhưng chưa kịp đi thì mắc bệnh kiết lỵ, ông phải ở nhà một đồng chí là Võ Bá Hạp. Ðể tránh tai mắt người ngoài, ông Võ dời ông xuống thuyền đậu ở nơi khuất tịch trên sông Hương, thuốc thang săn sóc. Nhưng bệnh mỗi ngày một nặng, nửa tháng sau thì ông qua đời. Ông Võ và các đồng chí ở Huế lo việc chôn cất. Hiện mộ ông tại làng Ðốc Sơ thuộc quận Hương Trà tỉnh Thừa Thiên.

Hỡi ôi! Một bậc hào kiệt như Tăng Bạt Hổ, không vợ con, không nhà cửa, suốt đời phục vụ cho quốc gia dân tộc, lại phải chết giữa cái tuổi mới ngoài 50 tinh lực vẫn còn hùng tâm chẳng giảm, đã để cho cuộc cách mạng của dân tộc ta một sự thiệt hại quá lớn!

Tin dữ vượt trùng dương, bay đến tai ông Phan Bội Châu bấy giờ đang ở Nhật, nhà ái quốc này vô cùng đau đớn viết đôi dòng ai điếu:

“Quân khởi kỳ sanh tác hí ư thời gia, đề binh thập tải, khứ quốc trấp dư niên; ký khốc ư Xiêm, ký khốc ư Hoa, ký khốc ư Nga, hốt hốt nhiên đại khốc ư Ðông, thùy giao tứ nhập thu phong, hướng ngã Thần Kinh mai hiệp cốt;

Ngã bất tri tử chi vi hà vật giả, độc thư ngũ châu, kết giao sổ thập bối; hoặc chiến dĩ thiệt, hoặc chiến dĩ bút, hoặc chiến dĩ não, đoan đoan đích thực chiến dĩ thiết, yêu đắc huyết lưu ôn đới, vị quân hoàng chủng thọ hồng kỳ.”

Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng đã dịch:

“Người há sanh làm giỡn với đời sao, cầm binh một độ, bỏ nước hai mươi năm; đã khóc với Xiêm, đã khóc với Tàu, đã khóc với Nga, đùng đùng sang khóc lớn bên Ðông, ai dè gió phất trời thu, nắm cốt về chân thành đất Huế;

Ta chả biết chết là cái gì vậy, đọc sách năm châu, kết giao vài chục bạn; hoặc đánh bằng lưỡi, hoặc đánh bằng bút, hoặc đánh bằng não, khăng khăng chỉ độc đánh bằng sắt, thề quyết máu sôi đất nóng, cờ đào trỏ mặt giống da vàng.”

Tây Hồ Phan Châu Trinh cũng có đôi câu phúng:

“Nẩm dư niên sơn hải gian quan, nhân giai bi kỳ ngộ, thiên nhược giám kỳ thành, Tam đảo minh tiên, tráng chí cẩm năng thông Thượng quốc;

Trấp thế kỷ phong vân biến chuyển, nhân giai tranh dĩ trí, quân dục cạnh dĩ lực, cửu thu qui kiếm, hùng hồn do tự luyến Thần Kinh.”

Bản dịch của Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng:

“Ba mươi năm lẻ, núi biển trải nhọc nhằn, ai cũng thương cho cảnh ngộ, trời hẳn thấy rõ nhiệt thành, quất ngựa thẳng non Thần, tráng chí mới thông miền Thượng quốc;

Hai chục kỷ đời, gió mây nhiều biến đổi, người đều đua lấy trí, người muốn đấu bằng sức, quay gươm về nước cũ, hồn thiêng còn mến đất Thần Kinh.”

______________
(1) Ông Phương Hữu, trong cuốn Phong trào Ðại Ðông du, có dẫn một đoạn thơ diễn việc nhà ái quốc Tăng Bạt Hổ khóc ở Nhật như sau:

“Thân phiêu bạt đã đành vô lại,
Bấy nhiêu năm Thượng Hải Hoành Tân;
Chinh Nga nhân buổi hoàn quân,
Tủi mình bô bá theo chân khải hoàn!
Nâng chén rượu ban ơn hạ tiệp,
Gạt hàng châu khép nép quỳ tâu...
Trời Nam mù mịt ngàn dâu,
Gió thu như thổi dạ sầu năm canh!...”


Lộc Xuyên Ðặng Quý Ðịch,
Nhân vật Bình Ðịnh)