Trong lời nói đầu, tác giả cho biết đã sống trên miền núi tỉnh Quảng Ngãi từ ngày còn bé, hơn ba mươi năm. Ca Dong là một nhóm thuộc dân tộc Xơ Đăng.

Cùng rượu cùng thuốc, người Kinh uống hút, người Ca Dong lại hút ăn. Về thứ bánh tét không nhân, ở Bình Định cũng có nhưng tròn chứ không dẹt. Những thứ mắm ngửi một lần “nhớ đời” hẳn đã ra đời trong hoàn cảnh thiếu muối trầm trọng, mắm làm chỉ cho vào vừa đủ muối để thịt khỏi phân hủy, sinh chất độc. Mắm bò hóc của người Khơ-me, mắm pa-đéc của người Lào là hai ví dụ nổi tiếng.

(Thu Tứ)



Phạm Nhân Thành, “Người Xơ Đăng - Ẩm thực”



Có lẽ chỉ căn cứ theo cách thức uống rượu mà người Kinh gọi tất cả loại rượu đựng trong ché sành uống bằng cây triên là rượu cần chứ đúng ra người ta gọi là cà rỏ. Cà rỏ được làm từ các nguyên liệu khác nhau nhưng hầu hết các già làng sành rượu đều thống nhất xếp hạng rượu có nồng độ từ thấp đến cao là lần lượt là cà rỏ ngô (bắp), cà rỏ gạo (có phân biệt gạo tẻ, gạo nếp và loại gieo trồng trên ruộng bậc thang hay trên rẫy) và cà rỏ khoai mì. Theo đó, cà rỏ ngô có nồng độ khá thấp và ngọt, chủ yếu dành cho phụ nữ, cà rỏ gạo là rượu dành cho bậc “trung tửu”, cà rỏ khoai mì ít ngọt và nồng độ cao (...) Uống cà rỏ là cả một nghệ thuật. Tùy theo khách quen hay lạ, lớn hay nhỏ tuổi mà các già làng chọn cách uống khác nhau. Cách thông thường nhất dành cho phụ nữ là hút cà rỏ ra chén để khách uống từ từ. Thứ hai là khách nam không thân quen lắm thì uống bằng cách ngậm ống triên để hút rượu (...) với người thân quen được xem như cư dân của gùng (xóm) thì không thể uống đơn giản như vậy (...)

Sau tiệc rượu mới tới bữa cơm. Trước khi các già làng chiêu đãi nhiều món khác nhau, khách nhất định phải qua công đoạn cơm trắng ăn với thịt gà trống trắng chấm muối hột trắng. Bữa cơm truyền thống này tất cả mọi người đều ăn bằng tay (ăn bốc). Tất nhiên mọi người cũng không ép khách ăn bốc giống như họ. Thông thường người ta dùng bàn tay thuận nhón ít cơm đựng trong rổ bỏ tém gọn ghẽ vào giữa lòng tay kia, lại bốc ít thịt gà đã được xé nhỏ bỏ lên trên và thêm mấy hạt muối trên cùng. Xong đâu đấy mới đưa bàn tay có cơm lên vừa tầm miệng rồi dùng tay kia đánh khẽ vào cổ tay của bàn tay có cơm sao cho cả miếng cơm lọt thỏm vào trong miệng mà không rơi ra chút gì và bàn tay cũng không dính lại gì. Cách ăn như vậy quả là rất khó đối với người không quen. Cứ như thế, bữa ăn diễn ra một cách từ tốn và râm ran câu chuyện đầu năm (...)

Xong bữa cơm khách được mời uống nước chè đựng trong mo cau chứ không phải trong bát sành thông thường. Nước chè ngày tết cũng được pha chế khá kỳ công. Chè tươi được ngâm rửa, vò rất kỹ trước khi cho vào nồi sắc đặc thành một chất sền sệt. Khi uống tùy vào sở thích uống đậm hay nhạt của mỗi người mà hòa chất chè sền sệt ấy với nước mưa đun sôi (...)

Rượu mừng, cơm đãi, nước mời xong mới hút thuốc. Ðúng ra phải gọi là “ăn” thuốc (...) Người ta hái lá thuốc già phơi hoặc sấy cho thật khô rồi vò kỹ, tán mịn thành bột đựng trong một ống trúc nhỏ bằng ngón tay trỏ để dùng dần. Khi “ăn” thuốc, họ vốc một ít ra đầu ngón tay đưa lên môi ngậm chặt cho đến lúc thuốc vừa tan và đủ ngấm mới phun ra phần còn thừa (...)

Tết (...) có những loại thức ăn, đồ uống đặc biệt (...) chuẩn bị công phu (...) mà không phải thứ nào người Kinh cũng nếm được. Không hiếm thức ăn mà khách chỉ có nhìn chứ không làm sao thò đũa vào được vì ngay đến cái mùi của chúng cũng đã quá “đặc trưng” (...) Tôi gần như là người bản địa nhưng mãi cho đến giờ vẫn không quen được với một số thức ăn còn ở dạng quá sơ khai, thuần nhiên (...) Ngày tết mà không ăn một vài chiếc bánh tét thì cũng khó nói được đã hưởng hương vị tết vùng cao. Bánh tét của người Ca Dong nhỏ và hơi dẹt làm từ gạo nếp rẫy, không hề có nhân thịt hay các thứ khác. Khi ăn thì chấm với một thứ mắm (...) mà người Kinh chắc chắn không xơi được.


(Phạm Nhân Thành,
Những tập tục kỳ lạ của một số dân tộc ít người, nxb. Phụ Nữ, 2007, tr. 102-106. Nhan đề phần trích tạm đặt.)