- Alligators chỉ to hơn vài giống crocodiles, mà nhỏ hơn những giống crocodiles khác. Đặc biệt, Chinese alligators thì nhỏ lắm: thường dài khoảng một mét rưỡi, nặng khoảng 36 ký! Ngay cả xưa kia, có lẽ con lớn nhất cũng dài bất quá 3 mét (trang wikipedia.org).

- “Con giao (...) giống lớn to đến mấy ôm, sinh trứng to bằng một hai cái hộc”. E rằng Quách Phác đã phóng đại, là chuyện khá thường gặp trong sách Tàu xưa.

- Tại sao các nhà chép sử thời Lý Trần lại gọi cá sấu Chiêm Thành là “sư tử”?! Rồi tại sao sư tử biến thành “sấu”?

- Chữ “long” bây giờ nhiều người cho có gốc ở các ngôn ngữ phương nam, chứ không phải là tiếng Hoa nguyên thủy. “Long” từ “thuồng luồng” có lẽ dễ đúng hơn là ngược lại.

(Thu Tứ)




Đào Duy Anh, “Giao long là cá sấu...”



Chúng ta hãy xem giao long là vật gì.

Giao long, người nước ta thường gọi là thuồng luồng, mà thuồng luồng thì người ta lại cho là một giống rắn rất lớn ở nước, song chưa ai thấy bao giờ (1).

Chúng ta phải xem người xưa tả con giao long ra thế nào. Sách Hoài Nam Tử, thiên “Ðạo ứng” chép rằng: “Ðất Kinh có người tên là Thứ Phi, được bảo kiếm ở đất Can Ðội, khi đi về qua sông Giang (Dương Tử), đến giữa sông nổi sóng lớn, có hai con giao long vây lấy thuyền... Thứ Phi nhảy xuống sông đâm giao, chặt được đầu, người trong thuyền đều sống cả.” Sách Tiền Hán thư, “Vũ Ðế kỷ” chép rằng, vua Hán Vũ Ðế từ sông Tam Dương đi thuyền ra sông Dương Tử, tự bắn được con giao long ở giữa sông.

Cao Dụ thích chữ giao long trong sách Hoài Nam Tử nói rằng: “Da nó có từng hột (vẩy dày), người đời cho miệng nó là miệng gươm đao.” Nhan Sư Cổ thích chữ giao long trong Tiền Hán thư, dẫn lời Quách Phác nói rằng: “Con giao hình như con rắn mà có bốn chân, cổ nhỏ... giống lớn to đến mấy ôm, sinh trứng to bằng một hai cái hộc, có thể nuốt người được.”

Cứ những sự tình gặp giao long ở sông Dương Tử sách xưa chép đó và cứ hình trạng con giao long theo người xưa mô tả đó thì chúng ta thấy rằng loài giao long sách xưa chép đó chính là loài cá sấu lớn đời xưa có rất nhiều ở sông Dương Tử, mà hiện nay cũng vẫn còn. Theo L. Aurousseau thì giống cá sấu lớn ấy mình dài đến 5, 6 mét, tiếng Pháp gọi alligator. Giống cá sấu nhỏ chỉ có ở miền Hoa Nam và ở Ấn Ðộ Chi Na thì chữ Hán gọi là ngạc ngư, tiếng Pháp gọi là crocodile. Người Hán tộc xưa gọi là alligator là giao long. Người mình gọi con crocodile là thuồng luồng mà sách chữ Hán của ta cũng gọi là giao long. Về sau trong các sông ở Bắc nước ta, giống crocodile thành hiếm, thỉnh thoảng thấy một con, người ta cũng gọi là thuồng luồng, nhưng người thường không biết hình dạng nó thế nào nên tưởng tượng nó là một giống thủy quái hình dạng như rắn. Các nhà chép sử ở thời Lý Trần xưa kia gọi giống cá sấu Chiêm Thành đem tiến cống là sư tử, tức sấu (hình con sấu trên nắp lư hương). Cá sấu với thuồng luồng bấy giờ đã trở thành hai giống khác nhau ở trong tiềm thức của người.


(Ðào Duy Anh,
Lịch sử cổ đại Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, 2005, tr. 31-32) (Sách này tập hợp ba tác phẩm khác nhau của Đào Duy Anh: Cổ sử Việt Nam (1957), Lịch sử cổ đại Việt Nam (1957), Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam (1957).)


(1) Trong tục truyền, ta thường cho thuồng luồng là một giống thủy quái rất dữ tợn. Ở dọc các sông lớn miền Bắc Bộ đời xưa thường có đền thờ thần thuồng luồng mà sách chép là giao thần. Chúng tôi ngờ rằng tên thuồng luồng là do chữ
long hay luông trong giao long mà ra. (ĐDA)