Lái xe tải, ngay cả trong thời bình cũng rất ít phụ nữ. Nhưng dân tộc Việt Nam có truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, nữa là chỉ lái.

“… dẫn đầu đoàn xe hơn chục chiếc của các lái xe nam vượt “cửa tử thần” thẳng tiến về Cổng Trời trong ánh sáng hỏa pháo và tiếng động cơ máy bay địch gầm rú trên đầu, những ánh chớp dài lóe sáng, những tiếng nổ kinh hoàng của bom, rốc-két, những làn đạn xối xả…”.

Các nữ tướng Đông Sơn xưa kia và Tây Sơn cách nay hơn hai thế kỷ cưỡi voi xông trận cũng chỉ oai đến thế thôi!

(Thu Tứ)



Đại đội nữ lái xe Trường Sơn




“Chị Viên ơi, chúng em về thăm chị đây! Đại đội nữ lái xe Trường Sơn của chúng mình được phong tặng danh hiệu anh hùng rồi chị ạ. Ngày vui mà chị lại vắng mặt…” - giọng bà Nguyễn Thị Hòa, nguyên chính trị viên đại đội nữ lái xe Trường Sơn, nghẹn lại, xen lẫn những tiếng khóc nơi khuôn viên nghĩa trang thôn Hải Yến (xã Hải Triều, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên) trong buổi sáng đầu đông, khiến những người có mặt đều rưng rưng xúc động (…)

“Mỗi dịp gặp nhau, trong câu chuyện chúng tôi vẫn bảo nhau, những ngày đêm (…) sự sống và cái chết cận kề trong gang tấc, vậy mà bom đạn kẻ thù không “động” tới cả 40 đứa con gái tuổi mười tám đôi mươi, thật kỳ diệu!” (…)

Đại đội nữ lái xe Trường Sơn, tiền thân là trung đội nữ lái xe độc lập mang tên Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Thị Hạnh, được thành lập ngày 18-12-1968 tại vùng núi xã Hưng Phổ, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Nhiệm vụ của đội là vận tải quân nhu vào chiến trường Miền Nam, đưa thương binh, bệnh binh, cán bộ từ chiến trường ra Miền Bắc điều dưỡng, học tập… Tuyến hoạt động chủ yếu là từ Bến Thủy (Nghệ An) đến tây Trường Sơn, lái xe trên đó phải vượt qua ngã ba Đồng Lộc, Khe Ve, Long Đại, 050, Cổng Trời v.v., những địa danh nổi tiếng là “túi bom”, “trọng điểm của trọng điểm”, nơi địch đánh phá ác liệt nhất (…)

Bà Hòa kể: “Ngày ấy, đội chúng tôi chưa ai từng một lần điều khiển bất cứ loại xe nào, vậy mà chỉ sau 45 ngày tập huấn, người nào cũng tự tin cầm lái đủ các loại xe từ Gát 51, Gát 63, cho đến Zin 157, kể cả loại xe nặng nhất có đầu tời chuyên cứu kéo xe gặp nạn...”.

Bà Vũ Thị Kim Dung, tiểu đội trưởng tiểu đội 2 xen vào: “Nói không sợ cũng không đúng, nhưng chúng tôi không sợ bom đạn, nguy hiểm, mà chỉ sợ trôi xe, mất hàng, không đưa được thương, bệnh binh đến nơi an toàn. Những lúc lái xe qua ngầm vào mùa mưa, nước từ trên thác tràn xuống cuồn cuộn, nhìn đã thấy chóng cả mặt, nếu tay lái không vững, xử lý tình huống không nhanh, thì xe rất dễ bị nước cuốn trôi”.

Bà Dung cho biết, tuyến đường 12 ngày ấy có đoạn Cổng Trời vượt sang Lào luôn là thử thách đáng sợ nhất, với những cua dựng đứng, đường đèo một bên là núi cao, một bên là vực sâu, trong khi xe của đại đội hầu hết thi hành nhiệm vụ vào ban đêm để tránh máy bay địch phát hiện, đi bằng “đèn rùa” lắp dưới gầm. Điều kiện lái nguy hiểm cộng với địch đánh phá suốt ngày đêm không làm các nữ tài xế sờn chí, vẫn kiên cường dũng cảm vượt cung đường, không để lỡ giờ, lỡ ngày của kế hoạch vận chuyển. Có những chuyến hàng, trước khi lên đường làm nhiệm vụ, đơn vị tổ chức “truy điệu sống” (…)

Trong ký ức các nữ lái xe Trường Sơn luôn rực rỡ hình ảnh Phạm Thị Phàn - người thấp bé nhất đội nhưng bản lĩnh cũng nhất đội - dẫn đầu đoàn xe hơn chục chiếc của các lái xe nam vượt “cửa tử thần” thẳng tiến về Cổng Trời trong ánh sáng hỏa pháo và tiếng động cơ máy bay địch gầm rú trên đầu, những ánh chớp dài lóe sáng, những tiếng nổ kinh hoàng của bom, rốc-két, những làn đạn xối xả… Còn rất nhiều tấm gương dũng cảm, như trong lần tiểu đội trưởng tiểu đội 1 Bùi Thị Vân chỉ huy vận chuyển thương binh vượt qua ngã ba Đồng Lộc, đoàn xe gặp máy bay Mỹ đánh phá cả trước và sau đội hình, nhưng các chị đã kiên quyết không bỏ xe, vững tay lái đưa thương binh vào nơi trú ẩn an toàn (…)

“Chúng tôi hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ bởi có đội trưởng Phùng Thị Viên luôn hết lòng vì đồng đội, dũng cảm đi đầu trong những tình huống nguy hiểm nhất” - bà Phạm Thị Phàn khẳng định (…)


(Kim Anh và Đình Khanh, “Đại đội xe độc nhất vô nhị trên đường Trường Sơn”, trang
qdvn.vn, 16/12/2014)