Gió thu mát lạnh trên đỉnh đèo đã giúp Tổng chỉ huy bừng tỉnh “giấc mơ đại đoàn”. Riêng gì Tổng, chắc chắn hầu hết mọi người đã…

Đại đoàn không phải chỉ là quân số một vạn người mà còn là đủ thứ trang bị mà kháng chiến đang không có hoặc chỉ có rất ít. Lập bây giờ thì bất quá cọp giấy, đụng đại đơn vị Tây là cọp thật, sẽ… rách ngay!

Đạt thắng lợi khi đánh lớn hãy còn thuộc về tương lai. Nhưng thắng khi đánh nhỏ thì đại đội Nghĩa Quân ở Bắc Ninh đã chứng tỏ khả năng rồi. Hơn nữa, để phát động chiến tranh du kích, các địa phương đang cần có bộ đội chủ lực về làm nòng cốt…

Đường đến Điện Biên Phủ phải đi qua làng. Chuẩn bị về làng ngay thôi, chiến sĩ ơi!

(Thu Tứ)



Võ Nguyên Giáp, “Từ đoàn xuống đội”



Từ sau ngày có chính quyền cách mạng, chúng ta dự kiến sẽ xây dựng hai đại đoàn chủ lực. Các khu đều hăng hái lựa chọn tiểu đoàn khá nhất, những vũ khí tốt nhất đưa lên Bộ để đóng góp vào việc xây dựng đại đoàn. Nhưng rồi chiến tranh sớm nổ ra và lan rộng rất nhanh. Những chi đội lên đường Nam tiến, những trung đoàn phải gắn với các chiến khu, các mặt trận. Chưa thể có điều kiện tập trung lực lượng dự bị chiến lược để đối phó với những cuộc tiến công lớn của địch.

Hạ tuần tháng Tám vừa qua, Chính phủ ban hành sắc lệnh tổ chức một đại đoàn độc lập trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy, dự kiến anh Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng sẽ kiêm nhiệm đại đoàn trưởng. Công tác chuẩn bị ở Bộ đang được xúc tiến.

Trong khi nghĩ đến không khí nô nức chuẩn bị thành lập đại đoàn, thì hình ảnh sinh động của đại đội Nghĩa Quân sống giữa vùng địch hậu Nam phần Bắc Ninh mỗi lúc một in đậm trong đầu. Ngựa bắt đầu lên dốc. Đây là một đèo nhỏ báo hiệu ranh giới giữa trung du và Việt Bắc. Trên đỉnh đèo, những lùm tre vàng rượi nắng thu. Những luồng gió mang theo hơi lạnh từ Thái Nguyên thổi về. Tâm hồn cảm thấy thư thái, lâng lâng. Ngồi trên mình ngựa, một ý nghĩ mới nẩy ra. Nó lóe lên như một ánh chớp soi rọi vào những chỗ trước đây còn mờ nhạt trong suy tư…

Chính lúc này, tôi chợt nhận ra muốn đưa cuộc kháng chiến tiến lên vững chắc chưa phải là lúc tập trung bộ đội thành đại đoàn, chuẩn bị những trận đánh lớn, mà phải có một quá trình rèn luyện thích hợp cho bộ đội ta từ thấp đến cao, một quá trình kiên nhẫn, lâu dài. Những sự kiện lần lượt hiện lên trong óc tôi: mặt trận Huế vỡ, trận đánh cấp trung đoàn vào thị xã Hà Đông không thành công, sự tồn tại của đại đội Nghĩa Quân giữa địch hậu Bắc Ninh… đều chứng minh việc cần làm ngay chưa phải là tập trung bộ đội để xây dựng đại đoàn; mà ngược lại phải mạnh dạn phân tán một bộ phận bộ đội thành những đại đội đi sâu vào địch hậu để phát động chiến tranh du kích. Bộ đội chủ lực ta thì cần được rèn luyện tác chiến ở qui mô tiểu đoàn, rồi trung đoàn, trước khi tác chiến qui mô lớn hơn.

Qua thị xã Thái Nguyên, tôi quyết định rẽ lên Chợ Chu vào nơi Bác ở. Cơ quan của Bác đã chuyển về Điềm Mạc.

Sau bữa cơm chiều, bên bếp lửa nhà sàn, tôi báo cáo với Bác về Hội nghị Quân sự lần thứ tư và chuyến đi chiến khu XII, rồi nói:

- Địch đang chuẩn bị một trận đánh lớn tiêu diệt chủ lực ta để sớm kết thúc chiến tranh. Bộ đội ta với trình độ trang bị, kỹ thuật như hiện nay chưa thể tập trung đánh lớn được. Đề nghị Bác và Thường vụ cho hoãn việc thành lập đại đoàn một thời gian. Ta đề ra kháng chiến toàn dân, toàn diện, nhưng phong trào chiến tranh du kích của ta ở địch hậu phát triển chưa mạnh. Tôi thấy cần đưa ngay một bộ phận chủ lực phân tán thành cấp đại đội về những địa phương ở địch hậu để phát động chiến tranh du kích. Bộ đội chủ lực ở các khu và Bộ hiện nay chỉ nên tổ chức tập trung ở qui mô tiểu đoàn; tiểu đoàn không phải là quá nhỏ, người Pháp coi tiểu đoàn là “một binh đoàn tác chiến nhỏ”; tác chiến ở qui mô tiểu đoàn là phù hợp với chiến lược du kích vận động chiến. Tôi xin đề nghị một công thức cụ thể: “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Theo phương châm Bác đề ra trước đây, dân quân du kích là nguồn bổ sung dồi dào cho chủ lực. Khi phong trào địa phương mạnh thì chủ lực sẽ rút, địa phương càng mạnh thì lại càng phải tiếp tục bổ sung cho chủ lực. Trong vài ba năm trước mắt, cần phải hoạt động chiến tranh du kích rộng khắp. Cuối cùng, để thắng cách quyết định, nhất định phải có quân chủ lực thật mạnh…

Bác chăm chú nghe rồi nói ngay:

- Phân tán một bộ phận chủ lực để phát động chiến tranh du kích là rất cần. Không phải chỉ đưa đại đội vào địch hậu mà đưa cả về những địa phương nay mai chiến sự sẽ lan tới. Công thức “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” là phù hợp với tình hình hiện nay. Số lượng các đại đội đưa về địa phương do Thường vụ quyết định. Sau khi Thường vụ nhất trí, cần thực hiện ngay.

Gia đình nhà chủ đem lại một rổ sắn và một ít mật mía.

Bác ngồi hút thuốc vẻ trầm ngâm rồi nói:

- Địch đưa sang thêm nhiều viện binh. Nay mai chiến sự lan rộng và ác liệt hơn, dân mình còn phải cực khổ nhiều… Thu Đông này các chú chuẩn bị tốt chưa?

Tôi báo cáo đã có chỉ thị gửi các nơi, đã tiến hành việc cất giấu kho tàng, lương thực, làm vườn không nhà trống khi địch đến và phá hoại những đường giao thông quan trọng. Cả nước đã có trên một triệu dân quân, du kích. Bộ đội được bổ sung chấn chỉnh suốt mùa hè, đã được lệnh sẵn sàng chiến đấu.

Sáng hôm sau, tôi sang chỗ anh Trường Chinh báo cáo lại ý kiến của Bác. Anh Trường Chinh nhất trí từ Khu IV trở ra có thể đưa một phần ba bộ đội chủ lực phân tán thành những đại đội độc lập về địa phương làm nhiệm vụ phát động chiến tranh du kích; ở các khu, mỗi trung đoàn chỉ để lại bộ chỉ huy trung đoàn và một tiểu đoàn chủ lực tập trung; riêng ở Bộ, các tiểu đoàn chủ lực vẫn giữ nguyên, và sẽ được bố trí từng tiểu đoàn tác chiến trên một địa bàn hoặc một hướng (…)

Anh Trường Chinh chuẩn bị lên đường đi thị xã Bắc Kạn. Không ai nghĩ là có một nguy hiểm đang chờ anh ở phía trước.

Trở về cơ quan, phòng 2 vẫn chưa có tin tức gì mới về cuộc tiến công của địch. Về sau, chúng tôi mới biết đúng vào thời gian đó, cơ sở ta ở Hà Nội báo tin địch tập trung rất đông quân ở Gia Lâm, đặc biệt có nhiều quân dù, rõ ràng đang chuẩn bị cho một trận đánh lớn có nhảy dù. Vì sơ xuất trong tổ chức giao thông liên lạc nên tin tức cực kỳ quan trọng này đã không đến với chúng tôi kịp thời.

Bộ Tổng tham mưu đã dự thảo xong mệnh lệnh gửi các khu trong cả nước về kế hoạch đối phó với cuộc tiến công mùa khô của địch. Mệnh lệnh khẳng định Bắc bộ sẽ là chiến trường chính. Địch có thể “quét đồng bằng Bắc bộ, đánh lên căn cứ địa Việt Bắc”. Mệnh lệnh đề ra kế hoạch đối phó với địch trong cả hai trường hợp.

(…) Đã là mồng 4 tháng 10 (năm 1947). Thời gian cấp bách (…)


(Trích hồi ký
Chiến đấu trong vòng vây in lại trong Tổng tập hồi ký, nxb. Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2006, tr. 455-457. Nhan đề phần trích tạm đặt.)