Làm sao cho cái “âm ỉ” chịu “vụt cháy lên”, là công việc của những người cách mệnh tiên phong.

Không phải chỉ đi tuyên truyền suông mà được. Phải “tiên tri tiên giác”, ráo riết chuẩn bị, và khi thời cơ đến, phải chụp ngay lấy mà tạo khí thế cho thật to, thì mới có lửa ngọn bùng bùng.

Cách mệnh tháng Tám không phải một sự tình cờ, mà là kết quả của nỗ lực hết sức kiên trì bất chấp hoàn cảnh lắm lúc cực kỳ khó khăn của một nhóm người đã hy sinh tất cả cho đại nghĩa dân tộc, dưới sự chỉ huy của một “lãnh tụ thiên tài”.

(Thu Tứ)



Đào Duy Anh, “Truyền thống trí thức yêu nước”




Xem thế thì thấy rằng những thành phần nho học ưu tú nhất ở đương thời đều đứng dậy chống giặc và những kẻ đầu hàng theo giặc mà cầu phú quý (...) không thể xem là đại biểu cho tầng lớp nho sĩ chân chính.

Sau khi phong trào cần vương thất bại thì thì thế hệ kế thừa lại phát động phong trào Duy Tân mà Phan Bội Châu là linh hồn (...)

Thực dân Pháp không thể tìm được tay sai trong lớp sĩ phu cũ vẫn trung thành với đại nghĩa dân tộc (...)

Sự thất bại năm 1908 của phong trào Duy Tân và sự thất bại năm 1916 của kế hoạch khởi nghĩa của vua Duy Tân và nhà nho học Trần Cao Vân ở Trung kỳ liên lạc với Quang Phục hội (do Duy Tân hội cải tổ) đánh dấu sự hạ đài của tầng lớp sĩ phu (...)

Để đào tạo tay sai, thực dân Pháp bắt đầu cải cách giáo dục. Trí thức mới phần lớn là con em của các quan lại đầu hàng, của các thông ngôn ký lục từng giúp việc cho chính quyền thực dân trong những bước đầu, của lớp tư sản và tiểu tư sản kiếm ăn và làm giàu trong công cuộc khai thác kinh tế của chính quyền và của tư bản thực dân (...) Người ta (có thể tưởng) lớp trí thức mới đã bị nô dịch hoàn toàn.

Nhưng không phải thế. Trong lớp trí thức mới có những người là con em các nhà cách mệnh trước, họ tất nhớ việc cha anh họ bị đày bị giết vì nước, làm sao họ có thể cam lòng cúi đầu mà phục vụ kẻ thù? Người trước người sau, sớm muộn thế nào họ cũng phải theo dấu cha anh, đứng lên đỡ lấy cái gánh nặng non sông mà cha anh còn để giữa đường để mang đến đích. Người tiên tri tiên giác trong lớp kế thừa này chắc chắn là cậu học sinh hai mươi tuổi Nguyễn Sinh Cung, sau đổi tên là Nguyễn Tất Thành, con ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Cậu học sinh người Nghệ An này đã học xong chương trình Hán học kiêm bị và học gần hết chương trình Tây học gọi là thành chung, năm 1911 quyết tâm xuất dương sang phương Tây để học hỏi thêm và để tìm con đường mới cho cách mệnh Việt Nam. Sau tám năm học hỏi và tìm tòi, khi Đại chiến Thế giới thứ Nhất chấm dứt, năm 1919 cậu thay mặt cho nhóm những người ái quốc Việt Nam ở Pháp gởi bản “Yêu cầu của nhân dân Việt Nam” lên Hội đồng Hòa bình họp ở Véc-xây với cái ý thức sâu sắc về sứ mệnh của mình, thì lúc đó chính là cậu đã báo hiệu cho đồng bào và cho thế giới rằng cách mệnh Việt Nam bắt đầu một giai đoạn mới (...) người lãnh tụ thiên tài ấy đã tìm được con đường cách mệnh đúng đắn rồi (...)

Trong khi một số người trí thức mới bền bỉ gánh vác cái sứ mệnh giải phóng dân tộc thì đại đa số những người trí thức mới khác, người thì do sự đàn áp hay sự mua chuộc của địch mà nửa chừng bỏ cuộc, người thì do cuộc sống hàng ngày và quyền lợi trực tiếp nhất thời ràng buộc mà không dám dầm mình vào cuộc đấu tranh, nhưng trong lương tâm nhiều người, cái đại nghĩa dân tộc vẫn còn. Bởi vậy cho nên vào dịp Tổng khởi nghĩa và nhất là từ Cách mệnh tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến, một số lớn các phần tử trí thức bề ngoài lạnh nhạt ấy - công chức và chuyên viên cũ - đã chợt tỉnh mà hướng theo chính nghĩa (...) Bác sĩ Trần Hữu Tước là một bác sĩ chuyên môn có tiếng ở Pa-ri đã tự xây dựng được sự nghiệp riêng của mình, thế mà bỏ lại tất cả theo Hồ Chủ tịch về nước để tham gia đấu tranh giải phóng nước nhà. Các kỹ sư Trần Đại Nghĩa, Lê Viết Hường cũng bỏ những chức vụ cao ở Pháp, nhà triết học trẻ tuổi Trần Đức Thảo đã nổi tiếng ở Pháp, cũng khẳng khái về nước tham gia kháng chiến với đồng bào (...) Khắp nước, bao nhiêu người trí thức không kể xiết đã không tiếc gì đời sống vật chất thừa thãi mà ra sống vất vả, nguy hiểm ở chiến khu, bưng biền, đáp tiếng gọi thiêng liêng của dân tộc (...)

Tại sao trí thức Việt Nam lại phần lớn là đi theo cách mệnh như thế? (...)

Trí thức Việt Nam, trước kia là tầng lớp nho sĩ, xuất hiện từ thời Trần, tự đẳng cấp bình dân do học hành mà trở thành (...) Nhìn toàn bộ tầng lớp sĩ phu và nhìn chung cả quá trình lịch sử (...) có thể nói rằng đại nghĩa dân tộc là cái tinh thần thấm nhuần sâu sắc vào tâm trí họ (...) Ngay trong tâm trí của đa số người trí thức mới phục vụ chế độ thực dân, cái ý thức dân tộc vẫn không bao giờ tắt (...) cho nên đến khi thấy đảng cộng sản dựng lại được nền độc lập và kiên quyết kháng chiến để bảo vệ độc lập, thì cái lửa yêu nước mấy lâu vẫn âm ỉ ở trong lương tâm họ vụt cháy lên khiến họ đi theo cách mệnh và kháng chiến (...) Phải nhìn người trí thức Việt Nam ở trong điều kiện lịch sử của dân tộc Việt Nam là một dân tộc đã phải đấu tranh chống ngoại xâm rất nhiều lần mới tồn tại được đến ngày nay (...)


(Đào Duy Anh, “Trí thức Việt Nam với dân tộc và cách mệnh”, trong hồi ký
Nhớ nghĩ chiều hôm, nxb. Trẻ, 1989. Nhan đề phần trích tạm đặt. Chỗ in đỏ đậm do người trích.)