Nguyễn Huy Tưởng, Như thế này, vui quá



Sinh vui một cách lạ, đầu choáng váng như say. Trời rét và gió bấc, sương mù lất phất như mưa, nhưng Sinh thấy nóng ran trong người, máu rậm rật như trong ngày xuân ấm. Anh vừa được Quốc Vinh gọi đến. Anh đã tìm được hai ống hơi khinh khí còn rất tốt và bàn xong với anh em công nhân cách bố trí phá cái xưởng sửa chữa vũ khí của quân đội Pháp. Quốc Vinh vội đi họp, những cũng ngồi lắng nghe anh báo cáo một cách rất chăm chú. Trước khi chia tay, người cán bộ tặng anh một khẩu súng lục Đức, vật mà Sinh mơ ước từ lâu. Thấy nhiều anh em tự vệ đeo súng, anh rất thèm, có lúc anh lại buồn cho một số người, sắm súng trường, súng ngắn, nhưng rồi bỏ về quê! Chốc chốc, Sinh lại thò tay vào túi quần nắm lấy khẩu súng của anh. Anh có cái hí hửng của một người được của.

Sinh vốn là thợ nguội. Hiện nay anh làm trưởng một trung đội tự vệ.

Đường phố Hàng Ngang vắng tanh, nhưng không đến nỗi rờn rợn như lúc nãy anh đi qua con đường Cửa Đông. Phố người mình ở vẫn có một vẻ ấm áp, hiền lành. Đã mười giờ, khác với mọi đêm, nhà bánh khảo Ngọc Anh vẫn còn mở cửa, đèn nê-ông tỏa ánh sáng xanh. Tự vệ tấp nập kéo đến để mua những bánh lương khô Nhật mà nhà này tích trữ được nhiều. Mấy anh cười nói với hai cô con gái nhà Ngọc Anh cũng đã xung vào một tổ cứu thương. Nhưng một đám thì đang cãi nhau với chủ:

- Sao mỗi lúc một tăng giá lên thế này?

Ông chủ nói:

- Thứ này khác thì giá cũng phải khác anh ạ.

- Khác đâu mà khác. Tôi đã mua sáng ngày, tôi về tôi lấy cho ông xem.

- Khổ lắm. Anh làm như chúng tôi đầu cơ không bằng.

Có tiếng nói bên ngoài:

- Thì đúng thế còn gì nữa. Con buôn ghê lắm. Chẹt được là chẹt.

Người ta đổ xô vào chất vấn ông chủ.

Phố Hàng Mã, một bên đã rào kín bằng những súc gỗ lớn chưa xẻ, đầu nhọn vươn lên như những viên đạn khổng lồ. Đầu bên này, anh em đang đào hào chống xe tăng. Các chị lúi húi xúc đất, vật lên bờ hào. Một chị dáng người đi ở, hất đất lên vừa lúc Sinh đi qua, nói lễ phép: “Cháu xin lỗi cậu!”. Sinh quay lại, cười, anh không quen nghe người ta gọi mình bằng cậu. Trong phố, người ta chạy đi chạy lại tới tấp. Mấy chị phụ nữ, dáng học sinh, người xách ấm, người bưng khay chén, người cầm đĩa bánh trái, hoa quả, đến mời anh em giải khát. Quang cảnh thật là vui và đoàn kết. Sinh nghĩ buồn cho cái phố Hàng Khoai của mình, mấy người nghèo xơ xác làm gì được hưởng những sự đối đãi sang trọng như thế kia. Chợt Sinh nhớ: ở đường bờ sông có mấy cái xác ô-tô, phải về vận động mọi người kích nó vào làm vật chướng ngại lấp kín con đường vào phố của anh.

Sinh đã về đến phố chợ. Chưa bao giờ anh thấy nó rộng như đêm nay. Không có một bóng người qua lại. Gió đánh bay những bụi vôi xoáy lại, giạt ra như vờn trên con đường đầy gạch vụn và rác rưởi, lỗ chỗ những lỗ chôn mìn, như những lỗ giun sau cơn mưa.

Con đường mới sửa, nhựa mới rải chưa đầy một tháng. Sinh thấy tiếc tiếc. Những ngày tưng bừng của phố xá hiện lên trong trí nhớ anh, như những con chim kinh động vụt ra từ một khóm cây. Sinh nhớ ngày Cách mạng năm ngoái. Trong cuộc thách nhau giữa các phố làm những cổng chào to nhất, đẹp nhất, anh và các bạn anh đã tham gia xây dựng cái cổng chào của chợ Đồng Xuân đồ sộ như một cổng thành. Đứng ở trên nhìn xuống được suốt Hàng Đào, đến tận Bờ Hồ, thấy lớp lớp cổng chào, rợp bóng cờ đỏ. Đêm đêm, các phố đèn sáng như sao sa. Người đi như nước, ngửa mặt lên ngắm cờ, ngắm đèn. Suốt đêm ngày say sưa với nền độc lập. Sinh nắm khẩu súng trong túi áo. Anh nghĩ bụng: “Đánh cho nó phải hàng. Ta lại mở những ngày hội to gấp vạn!”.

Một tiếng huýt sáo bên kia phố. Sinh nhìn thì là Phúc. Hai người chạy lại gặp nhau. Sau khi từ biệt Oanh, Phúc đến lớp bổ túc bình dân học vụ ở chùa Cầu Đông mà anh đang phụ trách. Lớp học toàn phụ nữ, phần lớn là những người đi ở. Theo lệnh mới của Ủy ban, lớp phải cấp tốc bế mạc trước ngày chính thức mãn khóa. Phúc không ngờ mọi người đến đông thế, gần như đủ mặt những người học trò nghèo khổ của anh. Họ hỏi anh nếu kháng chiến thì đi đâu, anh nói: “Tôi ở lại”. Tức thì cả lớp đứng lên nói: “Anh ở lại thì chúng em cũng ở lại”. Họ quyến luyến không nỡ rời nhau. Phúc đã mấy lần đi, nhưng đều phải trở lại, vì họ khóc quá và chính anh cũng khóc. Mãi đến khi một tổ cứu thương đến đặt trạm cấp cứu ở chùa, họ mới chịu giải tán, nhưng với biết bao nhiêu bịn rịn.

Phúc còn như đang sống cái phút cảm động nhất trong đời hoạt động xã hội của mình. Anh kể lại cho Sinh nghe và nói:

- Tôi không biết rồi họ sẽ đi đâu. Tiếc nhất là họ mới học được một tháng, học được ít nào lại quên hết mất thôi.

Phúc mặc chiếc va-rơ cũ, đầu đội bê-rê. Anh cố ý ăn mặc cho ra vẻ lăn lộn như mọi người. Cái bao súng lục anh đeo bên hông như không hợp với dáng học trò yếu đuối của anh. Sinh bùi ngùi cho bạn. Không chỉ có cảm tình, anh còn thấy rất mến Phúc. Họ không đến nỗi tồi hết cả, những con nhà giàu. Sinh nói:

- Tôi thấy chỉ có cách đánh thằng Tây mạnh vào thôi, cậu ạ.

Hình như cái tiếng “cậu” không làm cho Phúc thoải mái lắm. Sinh cũng thấy ân hận. Anh hỏi Phúc:

- Tôi thấy ít có những người như anh. Chúng tôi nghèo làm những việc ấy đã đành, nhưng anh, sao anh cũng chịu khó như vậy?

Họ sánh vai nhau đi. Gần đến nhà Cự Lâm, Phúc bỗng dừng lại. Anh đặt tay lên vai Sinh rồi lại rụt ngay, thấy cử chỉ của mình quá thân mật đối với một người chưa quen lắm. Anh nói:

- Tôi thích làm những việc ấy lắm. Tôi không giấu gì anh cả. Nhà tôi rất giàu, nhưng cũng rất buồn. Người nào cũng chỉ nghĩ đến tiền, mặt lúc nào cũng cau cau có có, khổ lắm chứ không sướng đâu. Buồn nhất là cậu mợ tôi, cô tôi không thật, lúc nào cũng mưu cơ, tính toán những việc ăn người. Tôi rất thèm một cuộc sống rộng rãi, như các anh. Các anh thiếu thốn nhiều, nhưng trên nét mặt, tôi thấy vẻ tự nhiên, trong sáng, thật thà. Có những buổi, tôi ra bến phà, thấy người ta khuân vác vất vả, mà vẫn cứ vui, cứ hát. Trong khi ở nhà tôi thì không bao giờ vui, không ai bao giờ hát cả, suốt ngày im ỉm. Những người đi học cái lớp của tôi cũng rất hồn nhiên, vui vẻ. Tôi đã sống cách biệt quá với mọi người, bây giờ tôi muốn gần gũi mọi người. Dạy cho họ biết chữ thêm một chút tôi thấy gần được họ thêm một bước. Họ rất mến tôi. Cuộc đời như thế vui hơn là lúc nào cũng nghĩ những mưu này kế nọ. Mặt cứ xấu đi, lòng dạ cứ khô đi. Buồn hết sức.

Sinh chăm chú nghe Phúc, đến đây anh bỗng chìa tay nắm lấy tay người bạn mới. Cái bàn tay đầy chai của anh như nuốt lấy cái bàn tay ẻo lả của anh sinh viên. Đây là lần đầu tiên Sinh chìa tay ra với Phúc. Họ đứng lâu dưới ngọn đèn trước cửa nhà Cự Lâm, sáng nhất phố. Cái phố chợ hoang vắng này sau một ngày kinh khủng, như còn mỏi mệt, rã rời, và như đang thấp thỏm chờ những ngày nguy khốn hơn nhiều. Đôi bàn tay nắm chặt. Gió rét thổi vù vù. Sinh nói:

- Không có những ngày như thế này, có lẽ chúng ta chẳng bao giờ bắt tay nhau cả.

Một nụ cười nở trên môi làm sáng cái mặt xương xương của anh thợ nguội. Phúc nói:

- Vào chơi anh. Bây giờ thì các anh vào chơi được. Khổ lắm, trước kia chẳng dám mời các anh.

Xa-lông nhà Phúc ríu rít những tiếng nói thanh thanh của phụ nữ. Ngọn đèn giữa trong một cái lồng tròn, to như quả bóng, trắng như băng phiến, có ba cái thao chạm trổ mạ vàng ôm lấy, tỏa một ánh sáng êm ả xuống những màu áo đỏ, xanh, tím, hồng của Lan và một số phụ nữ khác. Người khâu túi, người khâu băng hồng thập tự, người thêu chữ trên một là cờ nhỏ. Những ngón tay thon và mịn thoăn thoắt đưa kim múa lượn trên vải. Trông không khỏi nhớ cảnh phụ nữ thủ đô đua nhau may cờ những đêm đầu Cách mạng. Khi Phúc và Sinh vào, họ giật mình như một đàn bướm. Sinh nhác thấy trên tay Lan lá cờ đỏ đuôi nheo trên đã thêu hai chữ “Sống chết”. Anh gai gai người. Lan đứng dậy. Trông thấy anh về có khách, chị khẽ cúi đầu chào, đôi mắt nhỏ lim dim nhìn xuống.

Phòng khách choáng lộn những hoành phi, câu đối, những bức trướng thêu, những bồn sứ Giang Tây trồng cây cảnh. Tấm gương to bằng nửa gian nhà, khung vàng lóng lánh như kim nhũ, phản chiếu bộ quần áo tím cũ của Sinh bóng như mài. Đôi giày da thuộc của anh, bết đất, vấp phải một góc cái thảm lớn rất dày, trông như bằng gấm vóc. Chỉ có cái lỗ đục thông sang nhà bên ở một bức vách mà tấm trướng treo che hở là lộ bóng dáng của thời cuộc. Các cô đã chạy sang ngồi trên những cái kỷ kê sát tường. Phúc mời Sinh ngồi vào xa-lông, bảo Lan:

- Bảo nó pha nước, em nhé.

Sinh cười nói với các cô:

- Các... chị làm việc vui nhỉ. Lúc nãy bộ đội vào có vui không?

Tiếng ríu rít như chim:

- Vui lắm.

Chợt có tiếng động ở tường. Một cái đầu ló vào, mắt thao láo, rồi một thanh niên vén trướng chui ra. Mặc cho bọn phụ nữ sợ hãi, chạy ríu lại với nhau, anh ta cúi xuống cái lỗ, gọi:

- Đây còn có người. Chui cả lên đây, vui lắm.

Ba thanh niên, học sinh cả, tươi cười bắt tay Phúc và Sinh. Họ cũng là tự vệ. Phúc hỏi họ đi đâu, một anh nói:

- Đục tường xong, chả biết làm gì, thì đi dạo các nhà chơi. Trước dạo phố, bây giờ dạo nhà. Nếu có đánh nhau thì cứ như thế này mãi chứ gì. Có bao giờ chạy ra đường chơi được không, ông Sinh.

Thấy có anh em vào, Sinh đỡ ngượng. Anh nói:

- Chả nhẽ lúc nào cũng ở trong nhà ư? Buồn chết.

Họ ngồi cả xuống ghế, người nào cũng đeo vài quả lựu đạn. Một anh đeo cả kiếm Nhật dài lê thê, tay nắm đốc kiếm, một chân ghếch lên cái tay tì của ghế xa-lông. Anh châm thuốc lá hút, đôi ủng đá lên cái sập gụ cùng màu. Anh hỏi đùa Lan:

- Nếu tôi đánh nhau bị thương thì đã có chị Lan băng bó nhỉ.

Lan chưa quen nói đùa. Mặt đỏ ửng, chị đỡ cái vẻ lạnh lùng mà con trai trong phố vẫn cho là hợm của khinh người. Lan chạy vào trong nhà. Anh kiếm Nhật mỉm cười hóm hỉnh. Anh nói chuyện với Lan, nhưng thực ra anh đang để ý xem Hương có nhà không. Anh hỏi Sinh một cách đột ngột.

- Bao giờ thì đánh nhau?

Sinh cười để không trả lời. Anh kia nói:

- Chắc chỉ độ nay mai thôi chứ gì. Chuẩn bị thế này mà không đánh nhau thì cũng tiếc. Có bao giờ hàng phố lại quen nhau như bây giờ, nhà nọ thông với nhà kia. Người Hà Nội sống cũng đỡ cái thói xấu nhà nào biết nhà ấy.

Câu chuyện trở nên vui vẻ.

Bỗng thêm những tiếng cười nói, rồi lại một bọn thanh niên khác lốc nhốc chui sang. Hương cũng trở về. Nghe tiếng Hương, Lan chạy ra. Gian phòng nhộn nhịp hơn nữa, vì đông người, nhưng trước nhất vì cái tươi thắm của Hương.

Hương nói với Phúc:

- Vui quá anh ạ. Em chẳng muốn đi ngủ.

Hương ngây thơ, vô tư lự. Cô thấy anh và chị, và nhiều bạn học sinh ở lại, thì cô cũng ở lại. Chẳng khác gì mọi ngày mà lại được xa bà giáo. Trong khối óc còn ít suy nghĩ của Hương, cô quan niệm đánh nhau một cách lờ mờ, nguy hiểm hơn mọi ngày một tí, rồi đâu lại vào đó.

Phúc nói:

- Bây giờ vui, lúc đánh nhau đừng có khóc đấy.

Một lát sau, mọi người giải tán.


(Lược trích từ
Sống mãi với thủ đô)