Trong lúc trình bày kết quả nghiên cứu chữ nôm, Ðào Duy Anh tình cờ viết một đoạn về Thiền tôn. Cái viết tuy ngắn mà đủ...

(Thu Tứ)



Đào Duy Anh, “Thiền tôn”




1. Phật ở trong lòng, trau dồi tâm tính tức là nên Phật; 2. Người tu hành có thể do giác ngộ thình lình mà thành Phật (...) Ðó là hai điều chủ yếu trong giáo lý của Thiền tôn, tức là tâm ấnđốn ngộ, khác với giáo lý của các tôn phái khác cho rằng người khéo tu hành thì khiến nhẹ bớt được nghiệp báo cho kiếp sau rồi trải qua bao nhiêu kiếp luân hồi mới dần dần thành Phật được (...) Thiền tôn là một tôn phái của Phật giáo đặc biệt phát triển ở Trung Quốc, do Ðạt-ma tổ sư từ Ấn-độ sang Trung Quốc lập nên ở thời nhà Lương (Nam Bắc triều), được nhiều phần tử trí thức của Trung Quốc ngưỡng mộ, vì giáo lý của nó bao gồm những yếu tố triết học tinh vi. Ở Trung Quốc thiền tôn truyền được sáu đời, đến Tuệ Năng thời nhà Ðường ở Tào Khê (tỉnh Quảng Ðông) là tổ thứ sáu. Sau vị tổ thứ sáu ấy Thiền Tôn chia làm nhiều phái, có phái truyền sang Cao Ly và Nhật Bản, có phái truyền sang nước ta, đến thời Trần thì nổi tiếng nhất là phái Trúc Lâm do Trần Nhân Tôn tức Ðiều Ngự thiền sư làm tổ thứ nhất, căn cứ là chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử. Trần Nhân Tôn truyền cho Pháp Loa thiền sư là tổ thứ hai, rồi đến Huyền Quang thiền sư là tổ thứ ba, đều ở thời Trần.


(Ðào Duy Anh,
Chữ nôm - nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1975, tr. 29-30)












____________________
Nhan đề do người chọn tạm đặt.