Đảng phái bấy giờ đại khái gồm Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách.

Việt Minh đã gây được phong trào sâu rộng, xây dựng được nhiều cơ sở trong quần chúng, thành lập được lực lượng vũ trang tương đối đáng kể, nhưng chưa có ngoại viện vì miền nam Trung Quốc đang do quân đội của Tưởng Giới Thạch kiểm soát.

Việt Quốc và Việt Cách được sự ủng hộ của quân Tưởng, non hai mươi vạn đã kéo sang đóng khắp nửa phía bắc của nước ta. Nhưng quân ấy đang chuẩn bị rút.

Mâu thuẫn chính trị giữa Việt Minh và Việt Quốc, Việt Cách quá lớn, hai bên không thể làm việc với nhau được. Thực tế chỉ mong sau khi “đảng tranh” chấm dứt, bên thua sẽ không hành động phương hại đến cuộc kháng chiến.

(Thu Tứ)



Võ Nguyên Giáp, “Tình hình đảng tranh”



Tại Hà Nội, lực lượng tự vệ chiến đấu, các đội tuyên truyền của thành bộ Việt Minh và thanh niên cứu quốc chia nhau tới các khu phố. Anh chị em làm công tác giải thích cho nhân dân và cùng các đội tự vệ thành tiến hành chuẩn bị chiến đấu. Trong khi quân Tưởng có mặt ở khắp nơi, mọi hoạt động đều phải kín đáo. Ta chưa thể đào hào, đắp lũy trước mặt chúng (...)

Các đơn vị Vệ quốc đoàn (tức Quân giải phóng) được lệnh kiểm tra lại mọi công việc chuẩn bị chiến đấu (...)

Cùng với công cuộc chuẩn bị kháng chiến ở khắp nơi, ta vẫn xúc tiến việc thành lập Chính phủ Liên hiệp (...) Cho tới đó, những cuộc hiệp thương với các đảng phái (khác) vẫn không đạt kết quả (...)

Cụ Huỳnh Thúc Kháng được mời từ trong miền Trung ra để tham gia vào Chính phủ mới.

Tôi đã biết cụ Huỳnh từ hồi còn làm báo Tiếng dân ở Huế. Cụ là một nhà nho có tinh thần yêu nước cao, có khí tiết (...)

Tới Hà Nội, gặp chúng tôi, cụ Huỳnh tỏ ý lo lắng về cái mà cụ gọi là tình hình “đảng tranh” hiện thời. Theo ý của cụ thì (tất cả) đều tranh đấu cho dân, các vị lãnh đạo đều là những người yêu nước đã bôn ba hải ngoại, giờ phải đặt quyền lợi quốc gia lên trên, phải đoàn kết lại, không nên xung đột vì chuyện đảng phái.


(Trong hồi ký
Những năm tháng không thể nào quên, bắt đầu viết từ mùa xuân năm 1970, viết xong vào mùa xuân 1972, in lần đầu năm 1974, in lại trong Tổng tập hồi ký, nxb. Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2006. Lược trích tr. 219-220, nhan đề tạm đặt.)