Đây hình như là truyện ngắn duy nhất của Lê Vĩnh Hòa hoàn toàn không chứa thời cuộc (“Vắng bóng” cũng vậy nhưng đó có lẽ nên xem là một bài tùy bút).

Sau khi cùng chưng hửng trước tin bất ngờ, người lớn tuổi hơn nhấp “chén trà thân ái” thấy “ngon mà hơi đắng”, người nhỏ tuổi thấy “ngon mà đắng”... Có thể tình cờ, có thể sự từng trải giúp ta đón nhận thất bại cách nhẹ nhàng hơn... Ờ, mà không biết cô Nguyệt có cố ý pha trà hơi đậm hay đậm để đãi hai chàng rể hụt của bác Sáu chăng...

Nguyệt cũng như Liên trong “Nắng mùa xuân”, là một cô gái trong sáng yêu một chàng trai trong sáng. Đâu phải gái trai nào cũng được như vậy. Lê Vĩnh Hòa hướng thượng tự nhiên. Đọc ông, ta tự nhiên thấy đời tuy có lúc hơi đắng hay đắng nhưng vẫn “ngon”, đáng “uống”!

(Thu Tứ)



Lê Vĩnh Hòa, “Chén trà thân ái”




Bình sanh tánh tôi không ưa thứ con trai hễ thấy nhà ai có con gái là cứ tò vè đi tới đi lui như mèo thấy mỡ. Lấy một thí dụ cho dễ hiểu: như Ký Chín, chú Thiều với Tư Sạo ở đây chẳng hạn.

Chiều nào cũng vậy, vừa ăn cơm xong, mới thả qua trước sân nhà bác Sáu Liềm là tôi đã thấy đủ ba tướng đó ngồi tréo ngoảy giữa nhà, tán hươu, tán vượn. Tay nào cũng ra vẻ sành đời, chuyện bên Tây bên Mỹ gì họ cũng biết hết ráo, nghe bắt nhức lỗ tai.

Tôi cũng biết đây là cái chuyện “chim trời cá nước” ai bắt đặng nấy nhờ, nhưng thấy họ không biết người biết ta mà bắt tức cười, tội nghiệp dùm cho họ. Ký Chín già gần bốn mươi tuổi, chết hết một đời vợ, mặt mày sần sượng như trái cam sành, tóc thiếu điều muốn ngả ra màu tiêu muối. Vậy mà cũng mở hơi muốn nhào vô, bộ tưởng dễ ăn? Còn chú Thiều thì tướng tá con nít trân, nghề ngỗng gì cũng chưa có, tối ngày cứ đi kiếm báo cắt hình đào xi-nê, dân lêu têu như vậy có mong gì được trúng tuyển? Đáng ngán chăng là Tư Sạo, con ông chủ nhà máy Ích Dân. Tướng này vừa bảnh trai mà lại vừa giàu nhưng coi kỹ thì tánh tình lấc xấc, lụp chụp. Con gái ngó thấy ngó thấy chắc khó ưa.

Suy đi tính lại thì chỉ còn có tôi là có đường: địa đã lợi, mà nhơn cũng hòa. Nhà tôi ở đậu ngang nhà bác Sáu Liềm, ông già cô Nguyệt, cách nhau có con lộ đá. Sáng chiều, hai bên thấy nhau như cơm bữa. Còn về tình cảm, thì bác Sáu trai coi bộ cũng hạp ý với tôi lắm. Hễ ráp lại nói chuyện, câu nào bác Sáu nói ra tôi cũng đều cho là hay nhứt thiên hạ hết. Đánh cờ thì tôi nhường bác đi tiền, tôi đi hậu, lỡ có ăn con xe, con pháo gì của bác, tôi cũng hườn lại đàng hoàng chớ không phải chụp giựt như đánh với người khác. Việc giao thiệp qua lại, nhứt nhứt tôi cũng đều kính bác như là... cha vợ vậy, không còn chỗ nào có thể chê được.

Nhưng ở đời trâu cột thường ghét trâu ăn. Thấy tôi có phước như vậy họ muốn phá đám, cứ kéo bè kéo lũ tới hoài. Thấy mà bắt sôi gan. Tôi với bác Sáu đã có cái tình bàng cận lân gia, cho nên tôi lui tới đã đành, còn Ký Chín, chú Thiều với Tư Sạo lấy luật lệ nào mà họ có quyền lai vãng đây hoài mới được chớ? Tôi tính bữa nào hỏi trắng ra một lần cho bõ ghét, nhưng nghĩ cho cùng, thì cũng ngại. Quyền là ở bác Sáu mà bác cứ đứng giữa làm thinh hoài. Tôi hỏi như vậy, sợ hơi sớm quá.

Đầu tháng trước, có hai biến cố lớn làm nhẹ cho tôi được đối thủ quan trọng.

Vụ thứ nhứt là Tư Sạo, con chủ nhà máy Ích Dân làm chuyện bậy bạ với con nhỏ gánh trấu sao đó mà nó la om sòm, tiếng tăm đồn dậy xóm.

Y mắc cỡ, trốn biệt mặt không lai vãng tới xóm này nữa. Tôi thờ dài nhẹ nhõm: “bớt một nhòn một mũi”.

Kế đó, chú Thiều bị bà già gởi lên Sài Gòn cho đi học nghề. Tôi nghĩ thầm: Thiệt là “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn”, để chú Thiều ở đây cũng mệt cho tôi lắm. Mọi khi sang sáng nhằm giờ cô Nguyệt đi chợ, chú cứ ở trần nhảy nhót, đeo cây “ba-rơ-phít” hít lên hít xuống, rồi cong tay, kên mình để khoe cái bụng có vồng. Muốn chưng hình lực sĩ đẹp đa! Tôi thấy xốn con mắt quá sức.

Bây giờ chỉ còn tôi với Ký Chín. Cờ gần tàn mới là gay. Lúc trước có bốn người, kẻ nào ăn nói lấn lướt quá thì bị ba người kia liên minh đè bẹp liền. Bây giờ mất cái thế quân bình đó, không ai kềm nổi ai được. Ban đầu còn là “chiến tranh nguội”: móc lò, xiên xéo, nói xa, nói gần.

Lần lần nguy cơ “chiến tranh nóng” mỗi ngày một rõ rệt. Chỉ chờ cơ hội là nó nổ bùng. Và cơ hội đó đã tới.

Chiều hôm đó đi làm về, tôi vừa cởi áo thì nghe ở ngoài con nít ó lên cười dậy xóm. Chạy ra tới cửa rào, thấy Ký Chín mình mẩy như con trâu mới vùi dưới vũng nước lên: giày vớ, quần sạt-kin, cà-ra-oách gì bết sình. Cái xe đạp bánh trước cong vòng như con số 8. Bên kia, cô Nguyệt cũng che miệng cười. Tự nhiên là tôi phải cười lớn hơn ai hết, vừa cười vừa hỏi:

- Sao vậy anh Ký? Giận ai mà nhảy xuống sông tự tử vậy?

Ký Chín cười gằn:

- Giận? Đáng gì mà giận. Cái thứ đồ tiểu nhơn thù vặt, tôi kể như cỏ rác.

- Ủa? Tiểu nhân nào?

- Còn giả bộ hoài. Cây cầu, ai đi qua đi lại mấy năm không gãy. Hồi chiều có tới trăm người đi cũng không sao. Chờ cho tới tui nó mới gãy. Có phải kẻ nào thò tay mặt, đặt tay trái xeo trước cho nó sút ra để gài bẫy tôi không? Ai? Ai đây tôi dư biết mà. Đâu phải dễ gì qua mặt thằng này. Họ muốn đem tôi ra làm trò hề cho thiên hạ, nhưng mà đâu có sao. Tôi dư sức ăn thua với họ mà.

Tôi nghe, nóng mũi quá, bước ra đường, nghiêm mặt nói lớn:

- Anh đừng nói vậy anh Ký, làm động lây tới bà con xóm giềng. Nhà bác Sáu gần đây, bác nghe vậy cũng nhột nhạt trong bụng. Cây cầu này nó mục từ lâu rồi. Anh gặp giờ xui đi nó gãy chớ cầu là cầu chung cả xóm, có thằng tiểu nhơn nào xeo chèo cho nó gãy làm chi. Gãy rồi làm sao mà đi tới đi lui ra chợ được.

Ký Chín đứng lại gây:

- Tôi không cần chú dạy khôn mà. Chú cũng đừng có gài bác Sáu vô đây. Bác Sáu có thù hằn gì với tôi mà tôi nói động tới bác.

- Ủa, vậy chớ anh nói ai? Thằng nào? Tên gì? Bằng chứng ở đâu mà anh nói nó gài cây cầu cho anh té. Đâu anh đưa ra cho bà con chung quanh mỗi người biết một chút coi.

Ký Chín coi bộ hơi đuối lý, vừa nói lãng, vừa bẻ quẹo vấn đề qua ngã khác:

- Ai làm thì nấy biết, tự hổ thẹn với lương tâm chớ nói ra làm chi. Mà điều nói thiệt, đừng có trông mong tôi giúp tiền sửa lại cây cầu này.

- Khỏi, khỏi cần, một mình tôi cũng đủ rồi anh Ký à.

- Chú đừng có làm phách. Chú mới lại đây, chưn ướt chưn ráo mà. Chú phải biết tôi nói vô một tiếng với ty Kiến thiết thì có cái cầu bự gấp mười cây cầu này mà. Nhưng thôi, chú giỏi để chú làm.

- Hừ, tội gì mà tôi phải làm. Không có cầu thì lội qua sông cả xóm chớ một mình gì tôi. Nói không phải nói dóc chớ mười cây cầu này tôi cũng làm nổi nữa. Mà tôi không có dại. Ai làm gãy phải thường, kéo ngay lẽ ra phải vậy.

- Mà tôi không thường rồi thì có ai làm gì được không?

Tình hình coi bộ khó chịu dữ. Lối xóm bu lại cũng nhiều. Chú Tám thợ mộc thấy vậy nói cà rỡn giải hòa:

- Thôi bỏ qua đi thầy Hai, thầy Chín. Nước nóng còn có khi sôi hơi sức nào mà nhịn. Một câu cự bằng mười câu cãi mà. Anh em gây với nhau, chừng coi kỹ lại thì là người dưng không chớ có bà con gì với nhau đâu mà nhường. Mà điều tôi nói vậy chớ rủi có “quánh” lộn đừng có đổ thừa tại tôi xúi đó nghe mấy cha!

- Không làm lại thì mạnh ai nấy lội sông chớ có gì đâu mà thách đố.

... Mỗi buổi chiều gặp nhau tại nhà bác Sáu, tôi với Ký Chín vẫn nói chuyện nhưng sao mà nghe lạt lẽo chỏi tai quá.

Vài bữa sau, buổi trưa đi làm về, tôi thấy có người đương bắc cây ngang, lui cui đóng đinh nhịp giữa. Tôi thây kệ mà Ký Chín chắc cũng không chú ý.

Buổi chiều, ván đã lót xong, tôi dẫn xe máy thong dong đi qua. Khỏi tốn hai đồng bạc tiền đò mỗi ngày cũng đỡ. Mà có như vậy, tôi với Ký Chín dòm nhau cũng ít có ngượng hơn mấy hôm cây cầu gãy còn nằm chình ình trước mặt. Nhưng cuộc chạy đua âm thầm kia càng thêm quyết liệt.

Nằm đêm tôi suy nghĩ hoài. Cổ nhân có câu: “Tiên hạ thủ vi cường”. Mình không ra tay trước để Ký Chín hước mất thì thật là đau. Nhưng, nhào vô rủi lỡ thất bại thì cũng thật ê chề.

Kiểm điểm lại mấy tháng qua, thấy cái chiến thuật o bế của tôi cũng đã xài tới mức rồi. Bao nhiêu tài năng ăn nói cũng đã thi thố tạm gọi là đầy đủ rồi. Vậy thì phải vô đề mới được.

Nhưng vô theo ngả nào đây? Ngả cô Nguyệt hay ngả bác Sáu? Ngặt có cái là cô Nguyệt thì nghiêm, khó nói chuyện, còn bác Sáu thì tới bữa nay cũng chưa thấy mở ngang gì cho mình bước tới hết.

Suy tính tới lui, một ngần hai ngại, băn khoăn trăm mối tơ vò. Thật là chuyện tính cưới vợ giữa thời buổi mà báo chí đăng rêu rêu cái nạn trai thiếu gái thừa nầy, đối với tôi sao nó lại thiên nan, vạn nan đến như thế nầy?

Thằng Nhựt, em cô Nguyệt, ngồi kế bên, lấy cùi chỏ thúc thúc vô hông tôi, nói:

- Đi đi thầy Hai, ba tôi đi rồi đó.

Tôi chậm rãi cầm con pháo lên lo le một chút rồi để xuống, đẩy nhẹ vô kế chốt đầu. Tôi nói:

- Bác Sáu coi chừng nghe. Con xe tôi thọc xuống mặt tướng thì nguy đa.

Không hiểu sao đánh cờ với bác Sáu tôi nhơn đức quá.

Bác Sáu ngồi gật gù, gật gù, nhịp nhịp hai con cờ trong lòng bàn tay, suy nghĩ. Ở bàn trong, bác Sáu gái đang bửa cau. Bên ván, Ký Chín nằm không, quơ lấy tờ báo cũ đọc lấy lệ để cho có cớ đặng nằm. Một lát, y cười nhẹ rồi cất giọng nói:

- Cha, có tiểu thuyết “Trai cưới gái nào” nữa ta. Chuyện nầy chắc tâm lý lắm đa.

Thấy y gợi cái chuyện trai gái, cưới hỏi, tôi cũng muốn bàn sâu vô để thăm dò phản ứng của bác Sáu, nên nói:

- Ờ tiểu thuyết đó chắc là tâm lý nghẻ rồi. Nhưng phải mà tôi biết viết tiểu thuyết thì tôi viết bộ “Gái ưng trai nào” để dạy phụ nữ lấy chồng, coi bộ có ích hơn.

Ký Chín bỏ tờ báo xuống ván, xăng xớm”

- Lựa chồng hạng nào?

- Thì lựa trai còn tay, chưa từng có vợ, nhanh nhẹn, hoạt bát, có học, hiểu biết nhiều chớ trai nào?

- Ồ! Nói tầm phào. Vậy là chú còn trẻ, chưa sành tâm lý. Con gái đời nay khác. Tôi có đọc báo bên Mỹ tôi biết, ở bển con gái thích lấy chồng lớn tuổi. Mà nghĩ kỹ thì rất đúng. Người lớn tuổi từng trải, chín chắn, yêu thương vợ đằm thắm chớ không có bốp chốp nông nổi như con trai nay yêu người này, mai thương người nọ.

- Cái đó mới là lầm đa. Tình đầu bao giờ cũng là mối tình đẹp đẽ trong sạch. Thơ ca, báo chí, sách vở nước nào cũng phải ca tụng cái thứ tình đó hết. Còn tình thứ hai, thứ ba, tình già, tình gần xuống lỗ, là thứ tình khôi hài, người ta vẽ lên báo, người ta cười cho vui vậy thôi. Chớ có mấy đời vợ chồng so le với nhau mà hạnh phúc được. Phải trạc tuổi nhau mới thông cảm được chớ.

Ký Chín ngồi dậy. Tôi biết cái tật y: hễ khi nào cãi lẫy thì ưa ngồi chồm hổm lên lắm. Trận này cũng không vừa đa. Bác Sáu trai chắc cũng đoán biết như vậy nên nói vói ra sau:

- Pha bình trà uống chơi Nguyệt. Trời lóng nầy nóng quá.

Chờ bác vừa ngưng lời là Ký Chín xả “xú-báp” liền:

- Lý luận như chú sai bét hết. Tôi có đọc qua một quyển “Luận về chồng vợ” của một nhà văn hào Pháp... Để coi văn hào đó tên gì, tôi quên mất rồi. Trong đó tác giả cho rằng: “Chín chục phần trăm cặp vợ chồng trẻ đều không ở với nhau lâu dài được. Thế nào rồi cũng cắn đắng ly dị nhau. Người chồng phải hơn người vợ nhiều tuổi mới dạy vợ được”.

Tôi cười móc họng:

- Cuốn sách đó tôi chưa đọc, nhưng tôi dám chắc rằng tác giả quyển đó phải là một ông già gần xuống lỗ mà còn ham cưới vợ cho nên mới có những ý tưởng “dị kỳ quái” như vậy.

Ký Chín tức dữ, trừng mắt, hả miệng toan nói, nhưng bác Sáu gái ở bàn trong lên tiếng:

- Ờ! Nghe thầy Hai với thầy Chín nói chuyện cưới hỏi mới nhớ. Mùng ba tháng tới, thế nào hai thầy cũng qua đây ăn bánh uống nước nghe.

Tôi hỏi:

- Đám giỗ hả bác Sáu?

- Không. Đám cưới con Nguyệt.

- Ủa? Ai nói vậy?

Tôi và Ký Chín kêu lên một lượt. Thật là đồng thanh tương ứng, đồng “chí” tương cầu!

Bác Sáu trai nói:

- Thằng Nhạ.

- Nhà ở đâu bác?

- Ở đằng xóm nhà máy.

Tôi vỗ trán:

- Sao tôi không biết cà? Ảnh làm cái gì vậy?

Bác Sáu gái trả lời thay chồng:

- Nó làm “banh” vác lúa.

Ký Chín thở ra nhè nhẹ, nói xuôi xị:

- Tưởng làm cái gì chớ.

Nhưng bác Sáu trai nói tiếp:

- Vợ chồng tôi dễ, con ưng đâu gã đó. Thằng Nhà nhà nghèo, mồ côi cha, nhưng má nó vừa lại muốn mở hơi, tôi hỏi con Nguyệt, nó chịu liền. Tôi cũng lấy làm lạ, nhưng con Nguyệt nó nói nó thương thằng Nhạ ít nói mà giỏi làm. Bà con chòm xóm có chuyện gì nó cũng giúp liền không so đo. Tánh tình nó hiền lành dễ chịu, không có lốp bốp khoe khoang. Bị nó ít đi đâu nên hai thầy không biết. Cái thằng đen đen, đầu hớt “ma-ninh cua”.

- A!

Tôi kêu lên một tiếng nhỏ. Tôi có thấy, thấy một lần mà không để ý. Đó là cái lần đi làm buổi trưa về thấy có tướng đen trụi quần cụt ướt mem, lóp ngóp leo lên, leo xuống ở cột cầu đặng bắc cây ngang qua nhịp cầu mà Ký Chín làm gãy.

Ký Chín gật gù nhìn tôi. Chắc anh ta cũng nhớ ra rồi.

Bác Sáu gái nói:

- Nhớ qua nghe thầy Hai, thầy Chín.

Tôi dạ một tiếng nhỏ mà nghe tim mình thắt lại như có ai vừa bóp nghiến.

Thằng Nhựt ngồi kế bên, la chói lói:

- Chiếu tướng rồi kìa.

Tôi uể oải đưa con sĩ lên che mặt tướng thì nghe một cái bốp.

- Thôi chết con xe thầy Hai rồi. Cờ đương thắng mà hóa bại ta.

Thằng Nhựt hít hà tiếc. Nhưng tôi bỏ năm con cờ xuống bàn, vỗ vỗ trán nói:

- Thôi thua non bác Sáu ván này. Nhức đầu quá. Cho tôi xin kiếu về nghỉ một lát.

Bác Sáu trai cầm lại:

- Ở lại uống chung trà rồi hãy về, thầy Hai.

Ký Chín cũng nói:

- Ở chơi một lát rồi về với tôi, chú. Gấp gì về, bữa nay chúa nhật mà.

Tôi nghe trong giọng nói bùi ngùi của Ký Chín có pha nhiều tình cảm ấm áp đậm đà.

Ký Chín đưa cho tôi chén trà còn đương bốc hơi nghi ngút, thân mật:

- Uống đi chú. Trà ngon dữ đa. Ngon mà hơi đắng.

Tôi nhấp thử một miếng rồi ngậm ngùi khen:

- Ừ ngon thiệt. Ngon mà đắng.


4-1958