Rắn ngựa, muỗi mây, lúa ma… Cái “đồng” ngộ quá. Cái tên nó thì nghe đơn giản nhưng mà tới giờ cũng chưa ai giải thích được cho thiệt là xuôi.



Nguyễn Hiến Lê, “Đồng Tháp Mười”



Ăn xong, chúng tôi đánh một giấc tới ba giờ, để tránh ánh nắng gay gắt ban trưa, rồi đi về phía giồng Lâm Vồ, lội ngang nhiều cái lung đầy đỉa lớn bằng ngón tay. Mới đặt chân xuống nước rồi nhấc lên liền là đã có ba bốn con bám vào chân rồi, gỡ ra không nổi.

Không khí thực oi ả. Khi chui vào những đám lau cao, chúng tôi như nghẹt thở. Mồ hôi ướt đẫm áo, cổ khô như sau một cơn làm cữ (sốt rét).

Bỗng trước mặt chúng tôi, một đám khói bốc lên mù trời.

Anh Hai, người dẫn đường nói:

- Gặp đám đốt đồng rồi. Chúng ta ở dưới ngọn gió. Phải quanh qua phía tay mặt để bọc đám khói.

Càng tiến tới gần, không khí càng nóng ghê gớm, càng thấy khó thở. Ngọn lửa dài hàng trăm thước, liếm ngọn cỏ khô và tiến tới mau hơn người chạy, phun lên trời một đám khói đặc, đen nghịt và để lại phía sau một đám than lấp lánh những đốm đỏ.

Có tiếng sột soạt trong cỏ, một vật gì loang loáng lướt qua rồi biến mất.

- Coi chừng rắn đó, các ông. Ðốt đồng thì rắn ra. Miền này nhiều rắn lắm, đủ các giống: hổ mang, mái gầm, hổ lửa, rắn lục... Có những con rắn hổ dài ba, bốn thước, lướt như bay trên cỏ, đuổi kịp ngựa là thường; loài ấy dữ nhất, có tên là hổ ngựa.

Người ta kể chuyện một ông già kiếm củi ở miền Mộc Hóa thấy một con rắn đầu quấn vào một thân cây, cây ở bờ bên đây cái bưng nhỏ, đuôi quấn vào một thân cây khác ở bờ bên kia, rồi văng mình qua bên mặt, bên trái, để tát nước trong bưng. Chỉ một lát bưng cạn, chú ta bò xuống bắt hết nhẵn cá, ăn một bữa no nê. Nó khôn quá, thưa ông.

Anh Bình nghe chuyện rắn, có vẻ sợ sệt, ngó chung quanh và dè dặt bước ở giữa bọn tôi.

Anh Mẹo thấy vậy cười:

- Tụi nó sợ mình, thấy mình là trốn; mình đâu phải sợ nó. Chỉ khi nào trời không cho sống nữa, đạp nhằm nó, nó mới cắn; mà thứ rắn hổ lửa cắn thì vô phương chữa ở giữa cảnh đồng này. Nhưng ông đi giày cao ống thì lo gì? Có lo là tụi tôi.

Anh Bình hỏi:

- Miền này nhiều người bị rắn cắn không anh?

- Cũng thường có. Mỗi năm làng nào cũng có năm sáu người bị rắn cắn, nhưng phần nhiều tìm được thuốc chữa kịp. Xóm nào cũng có người biết thuốc trị rắn. Lâu lắm mới nghe tin có người chết.

Tôi nói xen vào:

- Mỗi làng có hai ba ngàn người mà lâu lâu mới nghe nói có người chết vì rắn, thì nạn rắn có gì đáng lo? Không bằng cái nạn xe hơi ở Sài Gòn, phải không, anh Bình? Vậy anh cứ yên tâm, đi ở đây an ổn như đi ngang đường Catinat hay Bonard vậy.

- So sánh khéo lắm. Phục rồi. Nhưng này, đã yên ổn như vậy, sao còn mang hai ống thuốc trừ nọc rắn làm chi vậy ông?

- Cẩn tắc vô ưu mà!

Anh Mẹo đi đầu, reo lên:


- A! có rùa. Rán bắt, tối nay làm thịt ăn.

Một con rùa lớn chạy đám cháy, bị anh Mẹo chụp được.

Chúng tôi đã tránh được ngọn lửa đốt đồng và đương tiến trong đám sậy, cỏ cháy đen. Ðất nóng hổi, chân như bị lùi trong tro. Mặc dầu bước rất nhẹ mà tro cũng bay lên bụi mù bám vào da, vào quần áo. Ai nấy đều có vẻ như ông táo, phải nín thở và mỗi lần thở phải đưa tay che mũi.




Ði độ một cây số khỏi đám đốt đồng, chúng tôi đều vỗ tay, nhẩy lên:

- Sen, sen. Có hồ sen ở đây!

Hàng ngàn bông đỏ điểm trên một nền xanh nhạt. Chúng tôi khỏe hẳn người, cổ bớt khô, ngực bớt nghẹt, vừa chạy ùa lại vừa hít hương sen trong không khí. Lưu, Nguyễn vào Thiên Thai chưa chắc đã vui bằng chúng tôi lúc ấy.

Anh Bình nói luôn miệng:

- Bĩ cực thì tới tuần thái lai chứ!

Sen mọc trong một cái lung dài và rộng, nước còn độ vài tấc. Không khí chung quanh mát rượi và thơm phức. Chúng tôi thâm hô hấp một lát rồi xuống rửa chân tay, mặt mũi, lại thâm hô hấp nữa. Anh Hai bẻ chừng một chục gương sen non đưa chúng tôi ăn đỡ khát.

Gió hây hẩy trên mặt nước, sen rung rinh tỏa hương. Chúng tôi chỉ tiếc không có vài chai bia ngâm nước đá và một đĩa khô mực để ngà ngà với hoa một bữa.

Nhưng ánh chiều đã tà. Dù hoa có khoe sắc để giữ lại thì cũng không thể nghỉ đêm bên hoa được. Phải đi. Ði mà cứ vài bước lại quay lại, cho tới khi bóng sen khuất hẳn.

Một người hướng đạo bảo tôi:

- Lúc nãy chúng tôi không dám cho hai ông hay. Ði qua chỗ đốt đồng nhiều khi nguy hiểm lắm. Có chỗ lớp đất ở trên rất mỏng, bước vào thụt chân xuống, tới lớp bùn than ở dưới. Lớp này nóng rực làm phỏng da là thường.

- Biết vậy, sao các anh còn dắt chúng tôi qua?

- Còn lối nào khác đâu? Ði vòng ngọn lửa cũng đã xa đường lắm rồi, nếu vòng cả đám đồng cháy ở sau ngọn lửa thì tôi sợ không tới giồng Lâm Vồ trong đêm nay được.

Chúng tôi leo bốn cái giồng nữa - giồng Cỏ Ống, giồng Cà Dâm, giồng Lung Sơn, giồng Thốt Nốt - tới giồng Lung Bông thì mặt trời đã xuống gần giáp ngọn cỏ.

Anh Bình tỏ vẻ lo lắng:

- Gần tối rồi, nghỉ ở đâu? Hai chân rã rời, tôi muốn cởi ném đôi giày nặng như đá này đi. Ðói, khát. Nước uống đã hết. Chung quanh không có nhà cửa.

- Thưa, cũng sắp tới nơi. Ông cứ an tâm, thế nào tối nay cũng có chỗ ngủ.




Chúng tôi cố lết một quãng nữa, gần tới một cái lung cạn, chung quanh là sậy thì có tiếng vo vo như đàn ong vỡ tổ. Một đám mây xám chập chờn ở trước mặt chúng tôi.

- Muỗi Ðồng Tháp đấy. Anh Bình! về ngoài đó, nhớ tả cảm tưởng của anh lúc này cho bà con nghe nhé.

Tôi đã quen muỗi. Những hồi đi đo ở Cà Mau, Phụng Hiệp, chiếc ghe bầu của tôi sơn xanh lá cây, mỗi buổi chiều, từ sáu giờ trở đi, biến ra màu xám: muỗi bám đầy ghe, liền cánh nhau, mỗi phân vuông cũng có ít gì vài con. Không thế nào đứng yên được một lát, phải quơ chân múa tay luôn luôn mà chúng vẫn đốt. Nhưng lần này muỗi mới thật là làm cho tôi rợn tóc gáy. Chúng tôi nín thở chạy xuyên qua đám mây, chúng sa vào lỗ mũi vào lỗ tai, chui vào cổ áo, cổ tay. Cũng may là chúng ít đốt. Sinh trưởng trong miền hoang dã này, chúng chưa được biết mùi máu người, gặp chúng tôi còn bỡ ngỡ, chưa kịp bu lại đốt thì chúng tôi đã thoát khỏi.

Qua đám muỗi rồi, chúng tôi còn thấy lạnh xương sống.

- Anh Bình, anh đã thấy ghê chưa? Muỗi nhiều như vậy, đốt trâu, trâu cũng chết, đừng nói là người. Cho nên miền này, nông dân phải may màn (mùng) cho trâu.

- Sướng nhỉ! Trâu được ngủ màn.

- Nếu không có màn thì ít nhất mỗi tối phải hun cỏ, rác, cây mục cho muỗi thấy khói mà lánh xa.

Khói và sương chiều bao phủ cánh đồng. Cảnh lạnh lẽo, cô liêu có một. Vài đốm đỏ hiện lơ lửng ở chân trời như ngôi sao mới mọc.

- Thưa ông, giồng Lâm Vồ đấy. Chắc trong trại có người ở.

- Có ít nhất là một chục người đêm nay. Lần này là lần đầu tiên giồng Lâm Vồ đón khách từ bốn phương trời lại. Anh em mình đi mau lên.

Chúng tôi quên mệt, nhắm ngọn đèn tiến tới. Nhờ ánh trăng, cũng đỡ thụt xuống lung. Ðến giồng thì gần tám giờ tối.





Năm sáu người từ trên giồng chạy xuống đón chúng tôi. Họ làm ở Sở Thủy lợi, đi đo từ Mộc Hóa xuống đây. Vì chúng tôi đã hẹn trước sẽ gặp nhau tại giồng này, nên tiệc đã dọn và họ đợi chúng tôi để nâng chén.

Chắc giồng này trước có trồng cây lâm vồ - một loại cây rất giống cây bồ đề - nên mới có tên ấy. Trên giồng có một trại ruộng khá lớn bằng lá do một anh nông phu coi. Trên kèo treo lủng lẳng những khô rắn, khô cá và khô chuột. Người giữ trại bắt được nhiều quá, ăn không hết, làm khô để dành.

Chúng tôi kiếm một cái lung ở gần giồng, lau mình qua loa rồi thay đồ ăn cơm.

Ngồi ăn ngay trên mặt đất, dưới ánh trăng.

Thầy Quang, xếp kíp đo bảo tôi:

- Trên nửa tháng nay, tám anh em chúng tôi sống ở giữa đồng, buồn quá, hay tin ông tới, mừng lắm, hôm qua cho người ra tận Tân Phú mua đồ nhắm để say bữa nay cho bõ những đêm ngủ nóp trong đám sậy.

Có rượu chát, la-ve, có thịt trích, thịt rắn, thịt cua đinh (ba ba). Hai ông dùng được những món lạ ấy không? Ðều là thổ sản của cánh đồng này. Rau, không có xà-lách Ðà Lạt mà có đọt xoài, đọt bằng lăng. À, có cơm lúa ma, một thứ lúa đặc biệt ở miền này.

Mười ba người, cả anh giữ trại, quây quần lại. Khát nước quá, chúng tôi uống ngay một ly đầy la-ve (rượu bia) rồi mới cầm đũa.

Anh Bình do dự, chưa dám múc món cháo rắn hổ, thầy Quang bảo:

- Nọc nó độc vô cùng mà thịt nó lành và bổ cũng vô cùng. Ông cứ dùng đi, đừng sợ; mát lắm. Bằng uống một thang lục vị đấy. Và món cua đinh này nữa, ngon hơn thịt rùa. Chà! Quên mất rồi, rượu đế ở Cái Dừng ngon lắm mà không bảo mua. Kìa, ông Lê uống đi chứ!

- Uống đây! Trăng vằng vặc thế này, không nhậu chẳng là phụ trăng ư?

“Nhân sinh đắc ý tu tận hoan
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt!”





Tôi ăn một chén cơm lúa ma: Hột nhỏ, hơi cứng nhưng có vị ngọt. Tôi hỏi thầy Quang:

- Lúa này thày mua ở đâu? Sao có tên lạ vậy?

- Không phải mua. Nó là lúa của trời cho, nên cũng có tên là lúa Trời. Tháng trước chúng tôi đi đo qua một khu đất mọc đầy thứ lúa dại này. Thân nó cao lắm, trên bốn thước. Bông ít hột, hột nhỏ, vỏ đỏ và có tới chục cái lông dài cỡ một phân. Chúng tôi căng một chiếc mền rồi cầm gậy đập vào ngọn lúa cho lúa rụng vào mền, được non một giạ. Ðể ăn chơi và gởi tặng bà con anh em. Tôi sẽ biếu mỗi ông một lít.

Người giữ trại nói:

- Thường người ta bơi một chiếc xuồng vào giữa đám lúa Trời, cầm hai thanh tre đập ngọn lúa vào be xuồng cho lúa rụng vào xuồng.(1) Chúng tôi ở miền này, khoảng cuối tháng chạp đầu tháng giêng, vào đồng đập một ngày cũng được vài giạ.

- Lúa đó mọc ở miền nào?

- Trong đồng này có nhiều đám lắm, mỗi đám vài công hoặc vài chục công. Nhiều nhất là ở Cái Dừng và gò Bắc Chiêng. Hột lúa rụng xuống không thối mùa sau lại mọc thành đám khác.

- Mà nó không lan rộng ra?

- Không. Chắc nó chỉ mọc được trên một thứ đất nào đó thôi. Nó mạnh lắm. Nước lên cao tới mấy nó cũng theo nổi.

Tôi quay về phía anh Bình:

- Ở đây có một giống lúa lạ mà ở Bắc không có, là lúa sạ. Cánh đồng này hồi trước hoàn toàn hoang vu. Tới mùa lụt, có khi mỗi ngày nước dưng lên trên hai tấc và nhiều chỗ nước ngập tới ba thước, như vậy lúa nào chịu được.

Năm 1891, cố đạo Conte, coi nhà thờ Năng-gù (Long Xuyên) đem một giống lúa ở Cao Miên về đây gieo thử: nó sống và lên theo kịp nước lụt, nên người Pháp gọi là lúa nổi (riz flottant) còn người mình gọi là lúa sạ vì trồng nó chỉ cần cày bừa, sạ (gieo) rồi đợi tới mùa gặt. Khỏi phải cấy.

Nó ăn không ngon bằng lúa cấy, nhưng hợp với những miền lụt như thế này. Lúa ma có lẽ là một loại lúa sạ chăng?




Mười giờ, tiệc mới tan. Trừ người giữ trại và tôi, ai nấy đều say khướt, chui vào mùng hoặc nóp, lăn ra ngủ.

Ánh trăng vốn huyền ảo, trên ngọn giồng, giữa đồng cỏ dại này, lại càng huyền ảo. Nhìn xa xa chỉ thấy một màu mông lung, xanh xanh, xám xám. Vài tiếng sột soạt của rắn, chuột trong đám năng, lát; một đám cỏ lay động dưới chân giồng rồi lại yên lặng hẳn.

Tôi hỏi người giữ trại:

- Em ở đây một mình có buồn không?

Anh ta mới trên hai mươi tuổi mà vẻ mặt đã điềm tĩnh như một hiền triết, nói nhỏ nhẹ, cử chỉ chậm chạp, mắt mơ mộng.

- Thưa ông, cũng quen đi. Tôi làm cho ông hội đồng N. Từ hồi mười lăm, mười sáu tuổi, ổng đã cho tôi vào đây giữ trại. Mỗi năm tôi sống ở đây sáu bảy tháng và như vậy non mười năm rồi. Ông có mươi con trâu. Mùa nước, cánh đồng này ngập hết, trâu không có chỗ khô để nằm mà cũng không có cỏ ăn, phải đưa nó vào đây. Còn mùa nắng thì tôi coi đìa.(2) Gần chỗ này, ổng (3) có một cái đìa lớn. Ðáng lẽ tôi phải ngủ tại đìa. Hôm nay có mấy ông, nên về đây chơi.

- Vậy em rảnh lắm, làm gì cho hết ngày, chỗ này có gì đâu mà tiêu khiển?

- Tôi bắt rắn, chuột, cá, rùa, móc củ co, hái rau dừa về ăn; hoặc cắt lá bàng về đương nóp.

- Gạo muối người ta đem ra cho em, hay em về làng lấy?

- Một đôi khi tôi về làng. Nhưng thường khi thì có anh Ba hay chị Sáu bơi xuồng mang ra đây. Hai người đó đều làm cho ông hội đồng.(4) Nửa tháng họ mang gạo ra một lần, nghỉ ở đây một lát rồi về.

- Từ đây về làng bao xa?

- Ði bộ hay bơi xuồng cũng mất nửa ngày.

- Mỗi lần gặp họ chắc em vui lắm nhỉ?

- Dạ, vui. Tôi hỏi thăm tin tức bà con trong làng. Nhưng không lần nào họ ở lâu.

Tôi mơ màng nhớ truyện Các vì sao của A. Daudet.(5) Trăng vằng vặc. Vài ba cái giồng như những con vật khổng lồ đương thiêm thiếp ngủ.

Tối đó, tôi thấy xa Sài Gòn quá. Ðây quả là một thế giới khác.


(Trích
Bảy ngày trong Ðồng Tháp Mười)





_________________
Chú thích của NHL:
(1) Tôi đã đọc một tạp chí canh nông của Mỹ nói bên họ cũng có thứ lúa ấy và cũng gặt theo lối ấy.
(2) Hầm lớn cho cá ở.
(3) Trong khi nói chuyện, người Nam nói nhanh hai tiếng “ông ấy” thành ra một tiếng “ổng”.
(4) Hội đồng ở Nam tức nghị viên ở Bắc.
(5) Truyện một chàng chăn cừu sống cô độc trên một đỉnh núi.