Mở đầu tập hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm (viết xong năm 1974), Ðào Duy Anh viết: "Mỗi người đều “mang lấy nghiệp vào thân”, cái nghiệp của tôi là nghiên cứu lịch sử Việt Nam (...) Ngày nay, đến buổi chiều tà của cuộc đời, nhìn lại (...) tôi nhận thấy (...) người ta có biết tôi cũng chỉ ở Lịch sử dân tộc mà có buộc tội tôi cũng chỉ ở Lịch sử dân tộc."

Nghiệp "ám" dữ, nhưng đồng thời cũng "cứu" nhà nghiên cứu: "sự nghiên cứu cổ sử Việt Nam đã đem lại cho tôi rất nhiều hứng thú, cho nên mặc dù phải vận dụng nhiều tinh lực, bệnh (đau phổi) của tôi không vì thế mà tăng, trái lại cuối cùng bệnh được ổn định."

Nghiệp chẳng những chữa bệnh, nghiệp còn là nguồn hạnh phúc: "Trong quá trình nghiên cứu của tôi cũng có những phút sung sướng (...) với những phát hiện của mình." Chẳng những sướng khi phát hiện, mà còn sướng khi trình bày phát hiện: "Tôi lấy làm sung sướng được là người đầu tiên giảng về cổ sử Việt Nam (...) truyền cho sinh viên (...) lòng tự hào có cơ sở khoa học đối với nguồn gốc vẻ vang của dân tộc, cái nguồn gốc mà xưa nay người ta chỉ tự hào một cách thần bí với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên."

Cũng như trường hợp rất nhiều dân tộc khác, lịch sử dân tộc Việt Nam bí ẩn nhất là vào lúc bắt đầu. Ðào Duy Anh có nghiên cứu những chuyện xảy ra trong hai ngàn năm qua, nhưng chính thời kỳ trước đó mới làm mất thật nhiều thì giờ, thật nhiều "tinh lực" của cụ.

Ðể đánh giá đúng đắn đóng góp của Ðào Duy Anh vào nỗ lực tìm hiểu nguồn gốc dân tộc, phải xét thời điểm ông lập thuyết. Sách
Lịch sử cổ đại Việt Nam in năm 1956, mấy năm sau đó Ðội Khảo cổ mới ra đời. Ông không có cái lợi thế có trong tay những tư liệu vô cùng quí giá mà Ðội sẽ lấy được từ lòng đất, nên nếu những nghĩ ngợi của ông có chỗ cần xét lại, thế là chuyện rất bình thường. Khi đối tượng nghiên cứu quá phức tạp, phải sau nhiều thế hệ học giả, lớp sau đứng trên vai lớp trước, ta mới thấy được sự thực.

Trở lại lời đầu sách
Nhớ nghĩ chiều hôm. Ðào Duy Anh cẩn thận mà nói vậy, chứ chắc chắn hậu thế chỉ lo biết ơn ông đã cho đứng trên vai mà thôi.

(Thu Tứ)



Đào Duy Anh, “Cái nghiệp của tôi”



lịch sử cổ đại Việt Nam (...) không có thể quan niệm nó trong khuôn khổ của lịch sử cổ đại Tây phương (Hy-lạp và La-mã) (...) mỗi dân tộc có con đường phát triển cụ thể tùy theo hoàn cảnh địa lý và hoàn cảnh lịch sử của mình, cho nên không có thể lấy cách phát triển của dân tộc này (...) mà gán cho một dân tộc khác.

vấn đề nguồn gốc (...) học giả Pháp (...) thường đứng trên lập trường của kẻ xâm lược mà tự nhiên hay cố ý thuyết minh xuyên tạc bôi nhọ tổ tiên ta.

tôi nhận thấy (...) truyền thuyết Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân có quan hệ với địa bàn sinh tụ của tổ tiên xa của chúng ta là người Việt tộc phân bố trong cả miền đông nam của lục địa châu Á

truyền thuyết Lạc Long Quân (...) có quan hệ với tín ngưỡng vật tổ của xã hội thị tộc (...) Do (...) những người Việt tộc phải "lặn lội" trong miền sông lớn hồ rộng, đã xuất hiện cái tín ngưỡng xem giao long -- một giống cá sấu lớn ở miền đông nam lục địa châu Á -- là vật tổ, do đó mà thành cái tên Giao Chỉ, chỉ miền đất ở của những người mà truyền thuyết xem là tổ tiên xa của ta

Tôi lại nhận thấy (...) từ Lạc tất có quan hệ với cái tên Lạc Việt của tổ tiên trực tiếp của chúng ta, mà tên ấy chính lại cũng có quan hệ với tín ngưỡng vật tổ xem con chim Lạc, con chim mà tôi cho là được khắc trên các trống đồng -- là vật tổ của mình.

tôi nhận thấy (...) Văn hóa Ðông Sơn chính là nền văn hóa độc đáo của người Lạc Việt (...) người sáng tạo ra nền văn hóa đáng tự hào ấy chính là tổ tiên của chúng ta (...) tổ tiên Lạc Việt của chúng ta (...) đã sáng tạo được một nền văn hóa đồ đồng tiến bộ nhất so với các nền văn hóa đồ đồng khác ở miền đông nam lục địa châu Á bấy giờ

tổ tiên Lạc Việt của chúng ta (...) còn lập được một sự nghiệp phi thường so với các nhóm Việt tộc khác (...) tức (...) đã (...) kháng chiến thắng lợi chống các lực lượng quân sự mạnh nhất châu Á bấy giờ là quân đội nhà Tần (...) những bộ lạc Tây Âu ở phía nam đã liên kết với những bộ lạc Lạc Việt mà kiên trì một cuộc kháng chiến kéo dài trong 7, 8 năm (...) Nước Âu Lạc (...) đã được xây dựng sau cuộc đoàn kết kháng chiến của người Tây Âu và người Lạc Việt (...) dưới sự lãnh đạo của người "kiệt tuấn" là An Dương Vương

tôi (...) chứng minh rằng Tượng quận là quận của nhà Tần đặt ở miền tây nam khoảng đất Bách Việt mà nhà Tần đã chinh phục, tức ở phía tây tỉnh Quảng Tây và phía nam tỉnh Quí Châu, chứ không dính dáng gì đến đất nước ta


(Đào Duy Anh,
Nhớ nghĩ chiều hôm, nxb. Trẻ, 1989. Nhan đề phần trích tạm đặt.)