Thu Tứ




Thơ bài khác (2)




Xuân Diệu – Cảm xúc
Xuân Diệu – Tình thứ nhất
Huy Cận – Anh viết bài thơ
Chế Lan Viên – Một nửa
Chế Lan Viên – Người yêu ở Việt Nam
Nguyễn Xuân Sanh – Trước xuân, đi thăm chùa Hương
Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (1)
Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (2)
Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (3)
Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (4)
Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (5)
Bùi Giáng – Ngôn ngữ người điên
Phùng Cung – Chơi hoa thị (hoài niệm)
Hoàng Ngọc Tuấn – Cô bé treo mùng







Bùi Giáng có lần viết: “Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn gì được (...) muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác.”(1)

Chúng tôi vốn bàn thơ cũng theo cái tinh thần “làm bài khác”, nhưng trong một thời gian khá dài chỉ viết lời bàn của mình thành văn xuôi. Một hôm chợt nghĩ đã cố viết văn xuôi cho thơ, sao không viết hẳn thành thơ? Mới bèn từ lúc ấy, lai rai bàn thơ thành thơ...

Thi thoảng đọc bài văn xuôi thấy có chất thơ, cũng bàn thành thơ...

Lại có khi đọc kinh Phật, rồi cũng đem ra “diễn ca” luôn cái hiểu của mình!

Sau đây là một số “thơ bài khác”, xếp theo thứ tự năm sinh tác giả bài thơ hay văn xuôi gợi hứng.


Xuân Diệu – Cảm xúc

Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây
Ðể linh hồn ràng buộc bởi muôn dây
Hay chia xẻ bởi trăm tình yêu mến

Ðây là quán tha hồ muôn khách đến
Ðây là bình thu hợp trí muôn hương
Ðây là vườn chim nhả hạt mười phương
Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc...

Ðôi giếng mắt đã chứa trời vạn hộc
Ðôi bờ tai nào ngăn cản thanh âm:
Của vu vơ nghe mãi tiếng kêu thầm...
Của xanh thắm thấy luôn màu nói sẽ...

Tay ấp ngực dò xem triều máu lệ
Nghìn trái tim mang trong một trái tim
Ðể hưởng vào giọng suối với lời chim
Tiếng mưa khóc, lời reo tia nắng đọng

Không có cánh nhưng vẫn thèm bay bổng
Ði trong sân mà nhớ chuyện trên trời
Trút thời gian trong một phút chơi vơi
Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ...

- Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ
Mà vạn vật là muôn đá nam châm
Nếu hương đêm say giậy với trăng rằm
Sao lại trách người thơ tình lơi lả? (XD)


Xuân Diệu chỉ mới tả có một nửa thi sĩ. Vì dồi dào cảm xúc, tức dồi dào tứ, là cần, nhưng chưa đủ. Phải có tài hóa tứ thành lời đẹp nữa, thì mới có, chẳng hạn, Xuân Diệu.

Là thi sĩ, trước tiên là cảm nhậy
Chút gió trăng mây đủ khiến hồn đầy
Nhưng tràn chăng nữa, vẫn còn chưa đủ
Vì thơ là lời, không là chỉ tứ mây!


Xuân Diệu – Tình thứ nhất

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em, kèm với một lá thư
Em không lấy, và tình anh đã mất
Tình đã cho không lấy lại bao giờ.

Thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo
Tình thì buồn như tất cả chia ly
Giấy phong kỹ mang thầm trong túi áo
Mãi trăm lần viết lại mới đưa đi.

Lòng e thẹn cũng theo tờ vụng dại
Tới bên em, chờ đợi mãi không về
Em đã xé lòng non cùng giấy mới
- Mây đầy trời hôm ấy phủ sơn khê.

Cũng may mắn, lòng anh còn trẻ quá
Máu mùa xuân chưa nở hết bông hoa
Vườn mưa gió còn nghe chim rộn rã
Anh lại còn yêu, bông lựu, bông trà.

Nhưng giây phút dầu say hoa bướm thắm
Đã nghìn lần anh bắt được anh mơ
Đôi mắt sợ chẳng bao giờ dám ngắm
Đôi tay yêu không được nắm bao giờ.

Anh vẫn tưởng chuyện đùa khi tuổi nhỏ
Ai có ngờ lòng vỡ đã từ bao!
Mắt không ướt, nhưng bao hàng lệ rỏ
Len tỉ tê thầm trộm chảy qua vào.

Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch
Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ
Hương mới thấm bền ghi như thiết thạch
Sương nguyên tiêu, trời đất cũng chung mờ.

Tờ lá thắm đã lạc dòng u uất
Ánh mai soi cũng pha nhạt màu ôi
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em, nên anh đã mất rồi. (XD)


Tình trao như mũi tên bay,
Những tên lạc đích đâu quay về người!
Tên đầu chẳng khác tên mười,
Tình đầu bỡ ngỡ, thơm mùi trinh nguyên...


Huy Cận – Anh viết bài thơ

Anh viết bài thơ giữa ánh khuya
Cỏ cây yên ngủ. Gió xa về.
Anh nhìn em ngủ hiu hiu nhẹ
Như bóng vườn trưa xanh tiếng ve.

Biển lặng em nằm trong gió êm
Anh là bóng thức của hồn em.
Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng,
Từng cặp nhân vàng trong trái đêm.

Bát ngát lòng anh giữa trái đời
Hai ta đôi hạt giữa nghìn đôi
Gió khuya nào biết xuân, hè nữa?
Em mộng điều chi, miệng thoảng cười. (HC)


Đâu phải sao nào cũng có đôi
Trời khuya lấp lánh lẻ loi thôi
Sao đơn trông xuống hồn hai bóng
Chúc cặp nhân kia mãi chẳng rời.


Chế Lan Viên – Một nửa

Bài thơ, anh làm một nửa mà thôi
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy
Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá
Nó không là anh, nhưng nó là mùa. (CLV)


Thơ có bao giờ là chỉ mình đâu
Cái gì đó, nó với mình đấy chứ
Thu chẳng hạn, vừa khiến xào xạc lá
Vừa vào lòng, làm vàng cả câu thơ!


Chế Lan Viên – Người yêu ở Việt Nam

Người tình nhân Việt Nam
Sáng ra mặt quay về phía chiến trường
Ðêm đối diện ngọn đèn hạt đỗ
Giữa hai nơi là mây trắng thời gian không thể đo lường
Ngày lắng tiếng bom gầm tọa độ
Ðêm ngủ với kỷ niệm với thư và với gió
Với ngọn đèn vặn nhỏ
Mờ sương.
Xa nhau một ngày cũng tợ mười năm
Cách nhau mười năm đất liền hóa vực
Biệt ly là vốn cộng thêm lời lãi cao chồng chất
Bao giờ trả xong?
Bao giờ trả xong, xin hỏi ngọn đèn
Ðã thay mấy nghìn lần sợi bấc
Mặt trận phía đằng sau này, chị vẫn giữ y nguyên.
Ngọn đèn
          Vặn thầm đi cho dễ ngủ
Ngọn đèn
          Vặn to lên xua nỗi nhớ
Hàng vạn cánh phù du về đây chết đêm đêm
Trận tuyến của lòng đôi khi muốn vỡ
Khi mùa về chim gọi nôn nao
Khi làng xóm râm ran đôi lứa
Khi trời bỗng sầm mây và trở gió
Khi nắng quái chiều hôm tan buổi chợ
Khi soi gương tóc có phai màu
Hoa đẹp lắm khi là kẻ thù của chị
Một mùi hương thơm đến nhức đầu
Gác tay lên trán
                    Không để mặt trận này núng thế
Rót dầu thêm
Chị khêu lại ngọn đèn
Cháy rực ngọn lửa hồng chung thủy.
Mặt trận phía sau này, chị vẫn giữ y nguyên. (CLV)


Bắt đầu chỉ có giặc ngoài
Anh ra đi, đánh nó bằng gươm bằng súng
Chiến sự dằng dai
Lần hồi
Một thằng giặc thứ hai
Lén lút len vào lòng chị
Nó đánh du kích
Chủ yếu về đêm
Ẩn hiện như ma
Trăm nghìn muôn xin các chị
Vì người xa, giặc lòng đánh chết chẳng tha!


Nguyễn Xuân Sanh – Trước xuân, thăm chùa Hương

Đò đi ngược suối cuối đông
Lòng anh những muốn tìm xuân trước ngày...
Vắng em. Không thể cầm tay
Đường đi vẫn thấy đó đây hai mình

Sáng trời. Hương Tích gió hanh
Nắng thơm bến suối, thung xanh vào mùa
Xuân chưa về, núi chưa mưa
Nhưng bên ta khắp rừng mơ nở rồi
Khăn tơ xuân trải thung dài
Anh nghe xuân đến: bên đồi, bước em...
Đại già còn trắng sương đêm
Chờ ai hò hẹn bên thềm mùa xuân

Lối đi mây đá chất chồng
Vắt ngang núi cũ xuân hồng ngày nay
Chân ta bước, mắt ta say
Hoa mơ dặm thẳm, hương lay bạt ngàn. (NXS)


Hương xinh nào phải đợi mùa,
Rừng hiu núi quạnh vẻ chùa càng hay.
Hoa đông trắng một trời đây,
Tiếc em xa, chẳng cùng say với mình.


Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (1)

“Quán Tự Tại bồ-tát hành thâm bát-nhã ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”.

(Nghĩa là:) “Có một vị bồ-tát tên là Quán Tự Tại khi ngài thực hành sâu về trí huệ thì ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua tất cả khổ nạn”.

(...) thực hành sâu vào trí huệ (...) tức là dùng trí huệ soi xét (...) cái thân năm uẩn (...) năm uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Sắc (...) là cái thân bằng xác thịt của mình (...) dùng trí huệ soi thấu nó thì (thấy) nó nguyên là do đất, nước, gió, lửa hợp lại mà thôi (...) Đất là những chất cứng ở trong thân như tóc, lông, móng, da, thịt, gân, xương v.v. Nước là như mồ hôi, máu mủ, nước miếng, đàm giải v.v. Gió là như hơi thở vô ra làm cho tim nhảy phổi nở v.v. Lửa là nhiệt độ (hơi nóng) trong người. Như vậy (...) thân (...) là sự giả hợp của tứ đại (...) cái ăn cái uống cốt bồi bổ cho tứ đại (...) Chúng ta thấy chỉ vì thân này mà lăng xăng lộn xộn suốt ngày. Hết nạp vô rồi cho ra, thiếu không được, dư không xong, vô ra cả ngày thật không nghĩa lý gì! (...) Việc đem vô đem ra rồi một ngày kia bắt buộc phải đình chỉ và thân này phải bị rã tan. Thân đã rã rồi thì lúc đó coi như hết! (...) Một cái rất tạm bợ mà (...) lo đắp bồi cho nó (...) gây tạo biết bao nghiệp chướng (...) đất nước gió lửa hợp lại (...) gọi là nhân duyên (...) do tứ đại làm nhân làm duyên với nhau mới có thân này (...) hết duyên thì nó rã tan (...) nguyên nó là không, do duyên hợp mới có (...) Biết sắc uẩn là không (...) thì qua được các khổ nạn của sắc uẩn. (TTT)


Đất, nước, gió, lửa là nói cho dễ hiểu đối với đa số. Nhưng nói thế e thiểu số biết khoa học sẽ nẩy ý thay thế bằng những nguyên tố, những hạt nọ hạt kia v.v., nghĩa là lạc vào mê lộ.

Nói thẳng, thì vật là “thể” do nhân duyên mà hiển hiện. Tuy trông nhiều khi hết sức khác nhau, vật nào cũng tự thể mà thành: “vạn vật nhất thể”.

Tất cả là một. Và tất cả đều có đấy rồi không đấy, không bền, “vô thường”.

Duyên xui Thể hiện nên hình,
Bao nhiêu cũng tự Thể thành ai ơi.
Có là trong một lúc thôi,
Duyên tàn, Có sẽ rã rời hoàn Không.


Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (2)

Thọ (...) là khi sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) sinh ra cái nhận chịu, hoặc khổ, hoặc vui, hoặc không khổ, không vui. Sự nhận chịu khổ vui đó gọi là thọ. Ví như khi lỗ tai nghe người ta chửi, lỗ tai là nhĩ căn, tiếng chửi là thanh trần. Khi căn và trần hai cái chạm nhau, mình khởi nhận (thọ) rằng đây là tiếng chửi, lúc đó mình buồn mình khổ. Nhưng cái nhận ra tiếng chửi ấy, khi người ta chưa chửi mình, thì nó đâu có (...) nguyên nó là không, duyên hợp mới có (...) có trần mà không căn thì không có thọ (...) Cái thọ nguyên nó là không, có là do duyên hợp như huyễn (...) Người hiểu được như thế (...) thì bị chê không thấy gì quan trọng, được khen không tự hào (...) qua các khổ nạn, không bị lệ thuộc vào (sáu trần) nữa (...)

Tưởng (...) tức là tâm tưởng của chúng ta, khi chúng ta ngồi lại, nhứt là ngồi chỗ vắng vẻ, chợt nhớ lại một danh từ hay một hình ảnh gì liền khởi tưởng ra tướng trạng. Như (...) ngồi đây nghe nói bên Nhựt cảnh rất đẹp, liền khởi tưởng cảnh ấy thế nầy thế nọ. Cái cảnh đó mình chưa thấy chỉ mới nghe thôi, mà tưởng ra thì cái tưởng ấy đâu có thiệt (...) Mình (...) tưởng tượng bằng cách lấy (cái mình thấy) làm tiêu chuẩn rồi phóng ra (cái chưa thấy) (...) Trước khi nghe nói về cảnh ở bên Nhựt, mình không thể tưởng ra cảnh bên Nhựt, mà sau khi nghe, mình mới tưởng tượng ra được. Như vậy (...) tai nghe (...) mới khởi ra tưởng (...) thinh trần và nhĩ căn (...) tiếp xúc nhau rồi mới có cái tưởng ra. Thành thử cái tưởng vốn là không, duyên khởi huyễn có. Hiểu được như vậy là quán tưởng uẩn thể tánh không, duyên khởi có như huyễn. (TTT)


Nhân duyên hội ngộ tiếng, tai
Một câu chửi lọt, giận hoài không quên
Lại khi nghe, tưởng liên miên
Bao nhiêu huyễn cảnh dựng lên trong đầu!


Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (3)

Hành (...) tức là cái suy nghĩ của chúng ta. Khi vừa nghĩ cái này liền nghĩ tiếp cái kia, nó liên tục không dừng (...)

Theo kinh điển Tiểu Thừa (...) hành là “niệm niệm sinh diệt” (...) tức là cái này khởi nghĩ thì cái kia diệt (...) sinh diệt không ngừng (...) dòng suy tư (...) thí dụ như một cây chuối lột ra từng bẹ, từng bẹ, lột mãi tìm lại cây chuối thì không thấy (...) Cũng vậy một dòng suy nghĩ của mình, từng niệm (...) tưởng (...) là thiệt, song niệm này diệt niệm kia sanh không có niệm nào thiệt hết (...) Tiểu Thừa (...) căn cứ (vào sự sanh diệt, tức vô thường) mà nói niệm không thiệt (...)

Theo Đại Thừa (...) (bởi có mắt thấy hoặc tai nghe) rồi mới khởi nghĩ (...) cho nên hành nguyên thể là không, duyên hợp huyễn có (...) Đại Thừa nhìn thẳng vào thể tánh (...) không đợi niệm diệt mới nói là không (...)

Tiểu Thừa nói vô thường, Đại Thừa nói huyễn (...) Nói vô thường thì dễ hiểu (...) Nói là huyễn là không thì khó hiểu (...) hiểu được (...) mới thấy cái sâu của Đại Thừa (TTT)


Loay hoay lột mãi lột hoài,
Có công lột bẹ có ngày nên... không.
Không là người nghĩ viển vông,
Không là cây chuối, còn mong lột gì!


Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (4)

Thức là phân biệt, cái phân biệt của mình. Ở con mắt khi thấy hình dạng vuông tròn hay màu sắc đen, vàng, trắng, đỏ... Cái phân biệt của con mắt gọi là nhãn thức. Lỗ tai nghe tiếng, sanh phân biệt tiếng trong, tiếng đục... đó là cái biết của lỗ tai, gọi là nhĩ thức v.v. Tóm lại những cái phân biệt của sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) gọi là thức (...)

Thọ đã không thật có thì thức cũng không thật có, chỉ vì căn tiếp xúc với trần mà khởi ra phân biệt (...)

Đến đây chúng ta đã đi qua hết năm uẩn (...) soi thấy (...) năm uẩn do nhân duyên hợp nên tạm có như huyễn, mà thể tánh là không (...)

Tất cả khổ nạn đến với chúng ta đều do chúng ta thấy (ngũ uẩn) là thiệt (...) Nghe người ta nói nặng một tiếng thì buồn (...) nếu biết thọ uẩn là không thiệt thì ai nói gì cũng không buồn. Không buồn tức là không khổ, mà không khổ tức là qua khỏi khổ nạn. Cũng vậy, đối với thân tứ đại này, nếu chúng ta thấy nó giả thì chuyện đau đớn, mất còn đâu có nghĩa gì (...) Cái gì cũng không hại mình được, vì mình đâu có mình mà hại. Sở dĩ mình có khổ nạn là tại mình thấy mình thiệt (...) Một khi mình thấy mình với đất nước gió lửa ngoài không khác, thì lúc đó đất nước gió lửa ngoài không hại được mình (...)

Khi hết khổ rồi thì gọi là lạc là vui, không còn một chút khổ nhỏ nào thì gọi là cực lạc, là Niết-bàn (...) Qua hết khổ nạn tức là được tự tại, được giải thoát (...)

Khi chúng ta đem hết tâm lực để chiếu soi (cho thấy) năm uẩn là không thì đó gọi là hành Bát Nhã (...) Đức Phật chỉ dạy một câu thôi (là cái câu ta bàn nãy giờ) (...) chúng ta dùng một câu đó để tu cũng đủ rồi (...) (TTT)


Nghĩ cho thấy Có là Không
Nghĩ sao cho thấy rõ Trong là Ngoài
Tu sao cho thoát hình hài
“Tâm vô sở trụ”, mới chẳng hoài công tu!


Thích Thanh Từ - Hiểu Tâm kinh (5)

“Xá-lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.”

(Nghĩa là:) “Nầy Xá-lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng thêm, chẳng bớt.”

(...) Như cái nhà này, trước khi cất thì thể nó không, nay cất cái nhà rồi thì xem có hình tướng cái nhà. Nhưng chính khi có cái nhà chúng ta vẫn biết thể tánh nó là không (...) cái không đó nó không sanh không diệt, mà không sanh không diệt thì nó không có gì là nhơ, không có gì sạch, không có gì thêm cũng chẳng có gì bớt. Sở dĩ có thêm bớt là vì con mắt phàm tục của mình quen nhìn sự vật với hình tướng mà không đạt được lý tánh. Bởi thấy tướng sự vật nên mình mê chấp theo tướng đó. Đã mê chấp tướng liền khởi vọng tưởng phân biệt, cái nầy tốt cái kia xấu, cái nầy hơn cái kia kém v.v. Khi đã có cái vọng chấp rồi thì bao nhiêu phiền não nổi lên khuynh loát mình, cuốn hút mình vào trầm luân khổ ải! (...)

Khi nhìn hình tướng thì thấy có sanh có diệt, nên có xấu, có tốt, thế này, thế kia v.v. Thế là tâm sanh vọng tưởng phân biệt, mà vọng tưởng phân biệt thì sẽ cấu kết với cái giả tướng bên ngoài để tạo thành một dòng tiếp nối trong tâm thức. Cả hai cái đó – vọng tưởng và giả tướng – không cái nào thiệt mà lâu nay chúng ta cho nó là thiệt, rồi chấp nhận cái vọng tâm (tâm phân biệt) của mình đó là mình. Vì chấp nhận rằng tôi thấy như vầy, tôi nghĩ như kia và tôi thích như nọ v.v., cái gì cũng là tôi, nên đưa đến hậu quả là một trường tranh đấu khủng khiếp mà không có lối thoát. Chỉ vì chấp cái vọng là mình.

Ở trong đã chấp vọng tâm là thiệt, bên ngoài chấp cái giả cảnh là thiệt, đó là gốc của sanh tử luân hồi (...)

Tu thì phải luôn luôn quán chiếu, tức là luôn luôn dùng trí huệ Bát Nhã để thấy tột thể tánh các pháp nó là không (...) Tại vì vọng tưởng chứa góp mãi (...) nên cứ trào ra (...) Mỗi lần chúng trào ra (...) cứ nhìn thẳng vào thực tánh của chúng (...) Thực hành như vậy lâu ngày mọi tập quán của mình sẽ hết (...)

Người tu mà có trí tuệ đạt được lý tánh các pháp, thấy được tánh là không, biết các pháp là duyên khởi như huyễn thì (...) đi đâu làm gì cũng thấy an nhàn, dửng dưng trước mọi cảnh, không gì làm buồn khổ được mà chỉ còn lại nguồn an lạc vô biên (...) (TTT)


Có thì mới có ít nhiều,
Có còn, có mất, tiếng điều nọ kia.
Không ta, không cái ngoài ta,
Soi cho thực thấy, thế là xong tu.


Bùi Giáng – Ngôn ngữ người điên

Thằng điên viết bậy vô cùng
Thằng không điên cũng vô cùng bậy ba
Quả mai ba bảy chan hòa
Ồ thưa em ạ! ồ! à! ồ! ô! (BG)


Hòa chan mai quả bảy ba
Điên không, viết cũng bậy ba vung cồ
Ạ thưa em á! à! ô!
Vùng cô bậy viết, điên ồ! ồ điên!


Phùng Cung – Chơi hoa thị (hoài niệm)

Hương thị vườn trưa
Ðẵm bàn tay chín tuổi
Vách buồng thơm
Thấm thoắt bảy vầng trăng
Hoa đếm tuổi em
Trăng vừa mười sáu
Em đi lấy chồng
Hoa níu vách - trăng tà. (PC)


Hoa thơm đẵm tay
Em thơm đẵm vách
Hoa còn em mất
Buồng ơi trăng ơi.


Hoàng Ngọc Tuấn – Cô bé treo mùng

Xin bấm vào đây để xem truyện.

Anh về Huế Tết chi năm đó
Để lọt vào lòng thứ tiếng nói ríu rít như một
loài chim sâu trong khóm lá
Để đêm đêm,
sau khi mái tóc nhánh đen thơm bồ kết và chanh
đã nằm trong chăn ấm, đi vào giấc mơ
chắc chắn cũng ngát thơm,
một mình anh nhìn ra ngoài cửa kính,
trời nửa đêm lóng lánh những lá chết,
cành trơ trụi, và đường
sâu hoang vắng...

Huế
Những con đường nữ sinh đến trường
vẫn lồng lộng màu trắng của tà áo dài
và vẫn khua vang tiếng guốc
của tuổi xuân xanh...
Anh thích nữ sinh nhưng không thích trường!
Cầu trời bão lụt thật lớn cho trôi hết trường đi
Để một mình anh làm thầy giáo đến kèm các cô
học trò như Ngâu môn học về cái đẹp
của mưa và nắng...

“Kể về anh đi”
Yêu cầu đơn giản làm đau điếng
... Tuổi trẻ anh nếm toàn trái đắng của trần gian
Hồi tưởng, chính là điều anh sợ hãi nhất
Thôi
Con số không kể chi cái số mình cho con số mười
Chưa “đấu” chút gì, anh đã thấy thua đậm rồi
Có phải vừa có tiếng chim hải âu kêu buồn
trong đôi mắt Ngâu?

Cô bé treo mùng
Có còn nhớ cái “ông” chúc Tết mình “dài quá nói
không được”?
Anh về Huế Tết chi năm đó.