Chỉ vài mét nước, mà mênh mông đất hóa nước!

“Hà Nội, tim ta đó” cách nay chưa lâu tôm cá dập dìu!

(Thu Tứ)



Trần Quốc Vượng, “Hà Nội biển dâu”



Cách đây 4000 năm (tính số tròn) (...) mực nước biển cao trên 3,5m so với mực nước biển ngày nay (...)

Biển lùi và sông bồi tích phù sa, phá Hà Nội cạn dần. Thế là có đất và có những đầm lầy, vũng đọng. Có đất nên cỏ cây mọc thành rừng rậm, với thú dữ: hổ, voi v.v. Có đầm, vực, nên có cá sấu, thuồng luồng, rùa, giải... Rùa còn có ở Hồ Gươm, ấy là chưa kể Rùa Vàng thời Lê Lợi và Kim Quy thời Thục Phán. Voi rừng còn đầy ở vùng Tây Hồ thời Lý (thế kỷ XI). Cá sấu còn sống sót ở bến sông Hồng Thăng Long thế kỷ XIII khiến vua Trần phải sai Hàn (Nguyễn) Thuyên soạn Văn Tế Cá Sấu. Hổ về quẩn quanh tận vùng chùa Một Cột thời Lê (thế kỷ XV)... Đó đều là chuyện sử gia Ngô Sĩ Liên còn chép rành rành. Vào thế kỷ XVIII, ở vùng Đình Bảng, Từ Sơn nay, còn rừng Báng, còn có củ mài ngon và lộc vừng để ăn cùng nem Báng. Rừng Sặt ở Trang Liệt, rất gần đây, còn khá um tùm. Rừng Xuân Quan mấy chục năm về trước còn đủ các loại gỗ “tứ thiết”: đinh, lim, sến, táu... Rừng bàng Yên Thái (Bưởi) là một trong “Tây Hồ bát cảnh” thời Lê. Rừng gỗ tầm giữa bán đảo Hồ Tây, rừng tre ngà viền một dải sông Tô vùng Cửa Bắc bấy giờ cũng còn ghi lại trong sử cũ. Và một di tích rừng còn sống động ở ngay nội thành Hà Nội, khu phố Ba Đình: rừng nứa đền Voi Phục. Và theo tên đất cổ, chỉ cần qua sông Cái, ta bắt gặp bến Bồ Đề (Phú Viên), Gia Lâm (rừng đa), Du Lâm (rừng dâu da), Mai Lâm (rừng mơ, gồm cả Mai Động - Hoàng Mai - Hồng Mai - Tương Mai - Chợ Mơ... xưa là rừng mơ cả). Rồi nào là Văn Lâm, Trường Lâm, Đông Ngàn... toàn là rừng, là ngàn, xanh tươi rậm rịt... Đào lòng đất Đông Anh (Dục Tú, Tiên Hội), đào lòng đất Thanh Trì (Vĩnh Ninh, Văn Điển...) nhà khảo cổ bắt gặp nhiều cặp ngà voi, răng nanh hổ, gạc hươu, răng lợn lòi... có tuổi 3000-4000 năm, theo sự xác định niên đại bằng phương pháp phóng xạ đồng vị các-bon C14.

Chứng tích rõ rệt nhất của thời kỳ rừng rậm đầm lầy Hà Nội cổ là những dải than bùn xếp dưới lòng đất Hà Nội. Than bùn Từ Liêm (qua lỗ khoan Dịch Vọng) có chỗ dày tới 4m, nằm từ độ cao xấp xỉ mực nước biển trở xuống. Mỏ than bùn giàu có Lỗ Khê (Đông Anh), một dải dài vài ki-lô-mét, Hà Nội ta khai thác đã hàng chục năm nay! Có rừng rậm, đầm lầy, cộng với bão tố, động đất... rồi mới có than bùn: rừng đổ xuống đầm, gỗ bị lấp bồi cản ngăn hiện tượng ô-xi hóa, dần dà thành than bùn.

Phủ lên trên lớp than bùn Hà Nội cổ, là lớp phù sa sông, gồm đất sét và sét pha, càng lên trên càng nhẹ dần tới đất thịt trung bình, có nơi thịt nhẹ. Di tích của đời sống con người sẽ thấy ở lớp đất này (...)

Các sông hệ Hồng Hà (...) đổi dòng, để lại nhiều hồ hình móng ngựa (như hồ Tây) hay những dải ao đầm kế tiếp nhau xen kẽ với những dải cát của lòng sông cũ.

Nét địa lý trường tồn của nghìn xưa Thăng Long và hôm nay Hà Nội, đó là cái đặc trưng thành phố sông: “thành phố ngã ba sông”, nếu lấy cả hai dòng Nhị Hà và Tô Lịch làm hệ quy chiếu; “thành phố một bờ sông” (bờ phải) nếu chỉ căn cứ vào sông Nhị.


(Trích Trần Quốc Vượng,
Hà Nội như tôi hiểu, nxb. Thời Đại, VN, 2009, tr. 40-42. Nhan đề phần trích tạm đặt.)