Đại khái, dịch thơ không phải là dịch nghĩa như dịch một cái... toa thuốc, mà là làm thơ với tứ của nguyên tác, có thể tùy tiện thêm tứ riêng của mình!

(Thu Tứ)



Võ Phiến, “Dịch thơ”



- Tôi nghe nói bạn từng đối thoại về thơ dịch?

- Bạn nghe đúng.

- Tôi nghe nói bạn chê thơ dịch?

- Bạn nghe gần đúng.

- Tính tôi cẩn thận... Có phải bạn bảo rằng thơ không thể dịch được?

- Cái đó còn tùy. Có thứ thơ làm ra chỉ chờ dịch. Tha hồ dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu, nó không hề hấn.

- Ý bạn nói thật vàng không sợ lửa chứ gì? Thơ hay đến nơi đến chốn thì dịch ra tiếng gì cũng hay chứ gì?

- Ðó không phải ý tôi. Bạn nên cẩn thận hơn.

- Kìa! Bạn vừa bảo có thứ thơ...

- Ðấy, tôi bảo có “thứ” thơ, tức “loại” thơ. Tôi không xếp hạng thơ cao thơ thấp, thơ hay thơ dở. Tôi chỉ phân biệt loại này khác loại nọ.

- Thế à? Thơ có loài à?

- Vâng, có.

- Thí dụ?

- Bạn muốn cái thí dụ về loại thơ chờ được dịch? Ðây:

“Nhất cao là núi Ba Vì,
Thứ ba Tam Ðảo, thứ nhì Ðộc Tôn.”

Có thể kể luôn tới thứ một trăm, rồi dịch tuốt, không sao. Lại chẳng hạn:

“Một quan tiền tốt mang đi,
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra?
Thoạt tiên mua ba tiền gà,
Tiền rưỡi gạo nếp, với ba đồng trầu...”.

Cứ thế dịch thẳng cho tới một quan. Dịch thẳng sang tiếng Zulu luôn. Tốt thôi.

- Loại thơ ấy dịch ra tiếng nước ngoài không sợ mất mát nhỉ.

- Sự mất mát lớn lao nhất là mất cái công dịch. Ngoài ra còn có gì để mất đâu. Nghĩa chữ thì dùng tự điển cẩn thận, mất thế quái nào được? Hễ thơ mà chỉ có ý thì khác gì lời nói thường, khác gì tản văn. Cứ thuê văn phòng phiên dịch có lai-xăng tử tế, phẩm chất công việc càng bảo đảm. Ðừng huyền thoại hóa cái thơ cái thẩn. Có thơ và thơ. Gặp cây đa nào cũng vái thì hỏng...

- Ấy, bạn giận dữ sôi nổi quá, e tổn thọ. Vậy, thơ “Nhất cao” và thơ “Một quan” là cùng loại?...

- Thật ra, đó cùng thuộc về loại “gọi là thơ”.

- Ý bạn muốn bảo: Cái “gọi là thơ” thì dịch được, cái “thật là thơ” thì không dịch được?

- Kể từ giờ phút này tôi có tri kỷ!

- Ý bạn, sẽ xét sau. Ý tôi lúc này là phản đối bạn đến cùng. Bạn thất kính đối với những uy tín lớn của dân tộc, như Ðoàn Thị Ðiểm, Nguyễn Khuyến v.v. Bạn láo nhé!

- Trời!

- Vô ích. Ngỗ nghịch như bạn, Trời Ðất nào dung thứ? Kêu Trời vô ích thôi. Bạn bảo thơ dịch không giá trị, vậy là bạn chê Chinh phụ ngâm, chê Khóc Dương Khuê v.v., bạn chê bai những viên ngọc quí trong kho tàng văn học Việt Nam. Những công trình vô giá ấy là gì nếu không phải là thơ dịch? Là cái gì? Hả? Bạn trả lời ngay cho.

- Chúng ta đang trôi về vấn đề dịch thơ.

- Vấn đề dịch thơ với vấn đề thơ dịch... Khéo vẽ! Khác gì nhau? Ðể cho có những bài thơ dịch tuyệt vời nọ, các cụ - cụ bà Ðoàn và cụ ông Nguyễn - chẳng phải đã dịch thơ đấy à?

- Dịch thơ không phải là dịch.

- Gớm, cứ dấm da dấm dẳng mãi. Nói tử tế xem nào. Ðã dịch lại không phải là dịch, thế là gì?

- Là làm gì, hồi sau sẽ phân giải. Bây giờ ta ôn tồn, nói chuyện với nhau như giữa hai người bạn... thật. Giữa bạn với nhau, xin thấp giọng thú thực: Thoạt tiên tôi không hề biết bài Khóc Dương Khuê là thơ dịch đâu; và luôn trong nhiều năm, thật nhiều năm, tôi tiếp tục... không biết. Mà tôi ngờ rằng chính ông thầy đã dạy tôi bài thơ ấy ngày tôi còn nhỏ, cả thầy tôi cũng không biết nữa. Thế rồi từ khi được biết nó là thơ dịch cho đến một thời gian dài sau đó, cũng không có lúc nào tôi thắc mắc tò mò thử đối chiếu hai bài xem sao, hay thử “thưởng thức” bài gốc bằng Hán văn xem hơn kém thế nào. Về phần bạn... bạn là người cẩn thận, người đứng đắn, người biết quí mến kính trọng cổ nhân, bạn không sơ xuất như tôi, dĩ nhiên bạn đã...

- Ơ... ơ... cái dĩ nhiên hãy để nói sau. Mời bạn tiếp tục về trường hợp của bạn. Xin mời...

- Tôi ấy à? Như đã nói, trước sau tôi vẫn thích các công trình nghệ thuật nọ như là những áng thơ hay, không phải như là những bài thơ dịch hay. Tôi thích chúng như những nghệ phẩm độc lập, có cá tính, có nét đẹp riêng. Cá tính ấy, nét đẹp ấy có phải chính được thừa hưởng từ nguyên bản Hán văn chăng? Tôi đếch biết. Tôi ngờ lắm. Mà nếu cái hay này cái đẹp này không do từ cái hay cái đẹp kia thì sao gọi là bản dịch thành công được? Bạn là người kính trọng cổ nhân, hẳn bạn rành về chỗ tương quan giữa những nguyên bản và dịch bản của họ?

- Ơ... ơ... cái rành ấy để rồi nói sau. Xin mời bạn tiếp tục.

- Tôi hả? Nếu bạn ép tôi phải làm sự so sánh thì đành vậy. Nào, hãy bắt đầu bằng cái giản dị nhất: cái nghĩa. Và đừng quá tẩn mẩn, ta lướt qua thôi, bắt lác đác chỗ này một câu chỗ kia một câu cũng đủ:

Một bên nguyên là:

“Hữu thời xuất kinh lộ
Không sơn văn lạc tuyền”.

Bên dịch là:

“Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo”.

Bạn có tìm thấy cái “róc rách lưng đèo” rất đáng yêu ấy trong bản gốc chăng?

Này nữa:

“Dư lão công diệc lão
Giải tổ qui điền viên”.

So với:

“Tôi già bác cũng già rồi
Biết thôi thôi thế thì thôi mới là”.

Ối chao, cái câu “biết thôi” nó bỏ câu gốc mà vượt lên chín tầng mây xanh. Làm một công việc như vậy mà chỉ gọi là “dịch” được sao? Kẻ nào gọi đó là dịch tức thị là một kẻ tàn nhẫn đấy, bạn ạ.

Thế rồi:

“Công ký khí dư khứ
Dư diệc bất công liên”

mà hóa ra:

“Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương”

thì quả là một sự hóa kiếp chứ đâu phải là dịch thuật nữa? Giữa cái ý: Ông đã bỏ tôi mà đi thì tôi cũng không thương tiếc ông, giữa ý ấy với lời lẽ tình cảm đậm đà trong hai câu nôm, bạn bảo là dịch đấy hả?

Như vậy là riêng về cái nghĩa thôi, ở nhiều chỗ bài dịch đã không theo bài gốc. Bạn bảo Khóc Dương Khuê là một viên ngọc quí; viên ngọc ấy phát ra cái lóng lánh riêng của nó, chứ không phải phát ra cái ánh sáng của bài gốc.

- Bạn vẫn cho rằng ý thơ không quan trọng.

- Khổ thế. Nó không quan trọng mà tôi lại chỉ lảm nhảm được về nó thôi. Tôi mon men thế nào được tới những chỗ tinh vi của lời thơ, của giọng thơ chữ Hán! Ðọc:

“Hữu tửu vị thùy mãi
Bất mãi phi vô tiền
Hữu thi vị thùy tả
Bất tả phi vô tiên
Trần Phồn tháp bất hạ
Bá Nha cầm diệc nhiên”

tôi chỉ thấy được cái nghĩa mà thôi, tức cái phần nhạt nhẽo nhất. Những câu ngũ ngôn ngắn ngủi gọn gàng ấy có thể trong lỗ tai người Tàu nó cũng có một âm vang đẹp đẽ nào đó. Ðẹp ra sao? Gây nên cái cảm xúc như thế nào? Tôi không lạm bàn; nhưng tôi dám quyết là nó không thể có cái duyên dáng ỡm ờ bay bướm của những chữ “không” chữ “ai” lặp đi lặp lại liên tiếp nơi mấy câu nôm:

“Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo chẳng viết
Viết đưa ai ai biết mà đưa
Giường kia treo những hững hờ
Ðàn kia muốn gảy ngẩn ngơ tiếng đàn”.

Nhưng bạn đừng ép tôi quá. Ép, tôi nói bừa sang cả giọng thơ Tàu, điệu thơ Tàu, không tốt đâu.

- Ai mà ép bạn? Chỉ có bạn cao hứng tự ép mình đấy thôi. Tôi nghĩ phiêu lưu đến thế đủ rồi. Bạn mà cứ tự ép mãi e thi ca Trung Quốc thiệt hại nhiều đấy.

- Ðồng ý. Chỉ nên loanh quanh ở nghĩa chữ, ý thơ thôi. May quá, lắm khi đổi thay vài chữ cũng làm cho giọng thơ khác thấy rõ. Vẫn cụ Tam Nguyên, trong bài Di Chúc, Hán văn viết rằng:

“Ta tai ngã học thiển
Khôi nhiên chiếm long thủ”

chẳng qua bảo mình học cạn mà đậu cao, lời dung dị khiêm nhường. Khi viết ra nôm thì giọng lại huênh hoang trào lộng:

“Học chẳng có rằng hay chi cả
Cưỡi đầu người kể đã ba phen”.

Lại khi dặn con về nghi thức tống táng, trong bản Hán văn chỉ dặn rằng:

“Vu công bát cửu nhân
Xuy tống liệt tả hữu
Thảo thảo táng ngã hoàn
Lỗi ngã dĩ bôi tửu”.

Trong bản nôm ý ấy hóa ra là:

“Lại thuê một lũ thợ kèn
Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng
Việc tống táng lăng nhăng qua quít
Tưới cho thầy rượu tít một be”.

Cái ban vu công tám chín người ấy bỗng thành ra một “lũ” thợ kèn, mà lối diễn xuất của những “thằng” thợ kèn lại đâm ra hài hước ngang xương. Cảnh tượng nọ tô đậm cái lăng nhăng quá đáng của một cuộc tống táng.

Thành thử khi làm cái công việc mà bạn bảo là “dịch”, cụ Tam Nguyên đã xắn tay tách mép những câu thơ Hán văn ra, dọn sửa cho nó một nụ cười hóm hỉnh tinh quái. Cụ trao cho nó một sắc diện mới, một sự linh động mới.

Việc cụ làm, bạn nghĩ là dịch, lắm người không dám nghĩ là dịch đấy.

- Lắm người là những ai? Họ nghĩ cụ làm gì? Khéo vẽ vời!

- Tôi không biết đích là ai. Có nhiều người dính dáng vào cuốn Văn đàn bảo giám. Cụ Trần Trung Viên sao lục, cụ Trần Tuấn Khải thì duyệt lại, sau này ông Hư Chu có hiệu chính, ngoài ra các ông Dương Bá Trạc và Tản Ðà cùng đề tựa; không biết có bao nhiêu trong số các vị đồng ý với nhau về câu ghi chú cho rằng bài Khóc Dương Khuê là “phỏng theo bài Ðiếu Dương Khuê văn”? Chính họ nghĩ thế. Tôi dám vẽ vời gì đâu? Chỉ “phỏng theo” thôi, bạn ạ.

- Hừm!

- Dù sao cái lối Nguyễn Khuyến tự “phỏng theo” mình còn gần nguyên bản hơn là lối Ðoàn Thị Ðiểm “dịch” Ðặng Trần Côn.

Ông Hoàng Xuân Hãn (trong Chinh phụ ngâm bị khảo) chịu là “văn dịch mà y như văn làm”. Do đâu được thế? Ông Hoàng bảo: “Lúc nguyên văn dài thì bỏ bớt thu gọn lại. Có lúc điệu nhạc phủ nguyên văn đặt vế rất ngắn thì góp hai vế lại thành một vế quốc âm. Có lúc nguyên văn cố ý lặp lại các chữ vì điệu nhạc phủ, thì ước lược cho hợp với điệu văn song thất lục bát ta. Có khi gặp những ý những câu diễn ca khó, mà bỏ đi cũng không mất tứ thì không ngần ngại bỏ phắt đi. Lại có khi vì vần hoặc vì muốn thâu gọn nên đảo lộn cả vế ở nguyên văn hoặc tráo lẫn ý trong vài vế nguyên văn.” Như vậy cụ bà họ Ðoàn đã tự tiện táy máy quá nhiều, còn gì nữa?

Thế nhưng vẫn còn. Ông Phạm Thế Ngũ (trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên) cho rằng ở lắm chỗ bà cụ “đã đặt vào ý thơ quá nửa cái tình tứ của riêng mình”. Chết chửa! Thơ là thơ của người ta mà mình đem đặt cái tình tứ của riêng mình vào, thì còn gì của người ta nữa?

May là bà cụ Ðoàn chỉ đặt vào cái tình tứ. Lắm dịch giả khác dám đặt vào đó những cái thật kỳ cục. Ông Hoàng Xuân Hãn đã tìm ra những bản dịch Chinh phụ ngâm khác, và thử so sánh. Bản gốc của cụ Ðặng viết:

“Vị quân trang điểm ngọc phu chi”.

Bà cụ Ðoàn nghĩ ra câu:

“Vì chàng tay chuốc chén vàng
Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng”.

Ở một bản khác thì hoá thành:

“Ðiểm trang sắm sửa tưng bừng,
Phấn Yên phưng phức, tóc Tần phê phê”.

Ở một bản khác nữa lại là:

“Vì chàng chải tóc mượt mà
Vì chàng trang điểm màu da mỡ màng”.

Gặp cái “màu da mỡ màng” như thế, bạn có thương cho cụ Ðặng Trần Côn không? Không ai “dịch” mà không đặt thêm vào nguyên bản một cái gì của mình. Mỗi người dịch có một phong cách riêng. May nhờ rủi chịu, cái phận của tác giả bản gốc phất phơ giữa chợ... Thương lắm thay.

- Ấy, đừng có mà bốc lên.

- Tôi bốc thế nào kịp thực tại. Cái dịch trong thực tế còn thay đổi cái gốc về nhiều phương diện nữa, quan trọng gấp mấy, chứ nào phải chỉ ước lược chỗ này thâu gọn chỗ nọ bỏ phắt chỗ kia, nào phải chỉ đem cái tình tứ của riêng mình gửi đại vào thơ người ta?

- Những cái vừa kể là thuộc về ý thơ, tứ thơ...

- Ðúng phóc. Giờ hãy thử mạo muội nêu ra chuyện điệu thơ.

“Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề, thùy tạo nhân”.

Hát lên đúng điệu nhạc phủ thì những câu ấy gây ra cái âm vang ra sao? Ta không hát được, ta không biết. Ta chỉ có đọc. Ðọc thì cứ câu ngắn câu dài, chốc chốc lại “hề” một cái, nghe cà khục cà khặc. Cụ Ðặng chọn điệu ấy là có ý đồ gì? để gợi lên xúc cảm như thế nào? Nếu bạn bảo rằng cụ không có chủ tâm, cứ “nhân tiện” mà phóng bút, không đắn đo chọn lựa gì, bạn mà bảo thế thì mặc dù bạn sùng kính cổ nhân, cổ nhân cũng đến phải truyền nọc bạn ra mà phết cho mấy hèo.

Nếu cụ Ðặng đã có chủ ý chọn điệu nhạc phủ để truyền đạt một xúc cảm nào đó, bà cụ Ðoàn lại dịch phăng ra điệu song thất lục bát thì trong bản Chinh phụ ngâm nôm còn lại được chút hơi hướng gì của cụ Ðặng nữa!

- Ờ! Giá Ðoàn thị Ðiểm tôn trọng sự chọn lựa của Ðặng Trần Côn, cứ giữ lấy điệu nhạc phủ, và thay tiếng “chừ” vào các tiếng “hề” cũng được nhỉ?

- Ðược à? May mà bạn cách cụ Ðoàn hơi xa, không xúi dại được ai.

Từ trước tới nay thỉnh thoảng vẫn có những dịch giả “cẩn thận”, cứ nhất mực “tôn trọng” tác giả bằng cách giữ nguyên điệu bản gốc: hễ ngũ ngôn thì dịch ra ngũ ngôn, thất ngôn thì dịch thất ngôn, cổ phong thì dịch đúng cổ phong v.v. Tôn với trọng mà như thế thì không còn hơn...

- Hừm!

- Này, bạn thử tưởng tượng một danh sĩ Tàu đầy thiện chí đem Truyện Kiều dịch ra Hán văn; và trong tinh thần tôn trọng sự chọn lựa của Nguyễn Du, bản Kiều tiếng Tàu được giữ nguyên thể lục bát!

Bạn tưởng tượng xong chưa? Tôi tình nguyện giúp bạn. Ở đời chuyện kỳ cục đến đâu cũng có thể xảy ra được: Cái lục bát Hán văn từng có đấy. Ðây là một mẫu lấy từ Thánh Tông di thảo, bạn nghe nhé:

“Tư quân như thiết như tha,
Thức hà khả thiết, ma hà khả lân
Thiết tha tâm bội tư quân,
Như sơn dũ tuấn, như vân dũ trường!
Gia nương y ngã gia nương,
Kim khuê tâm loạn, tha hương thần trì” v.v.

- Thì đại khái như trường hợp song thất lục bát trong “Thu dạ lữ hoài ngâm” của Ðinh Nhật Thận.

- Ðại khái thế. Là những trường hợp đáng thương. Người Tàu mà gặp, họ sẽ nghệch người ra. Có thể họ thấy thơ như thế nó cà khục cà khặc, chẳng ngâm nga gì được, chẳng phát khởi nên cảm xúc nào cả. Có thể chúng ta phải chịu khó chiếm lấy đất nước họ, cai trị họ chừng nghìn năm, bắt lên rừng xuống bể tìm sừng tê ngọc trai, bắt học tiếng Việt chữ Việt cho thật thấm thía, sau đó mới mong họ tạm quen thuộc tạm thưởng thức được thơ ấy.

- Hừm! Lại tếu.

- Cái đọc cũng như cái ăn, mồm ăn cũng như mồm nói bạn ạ. Không phải vần điệu nào hễ thuận miệng ta thì thuận miệng người, món ăn nào hễ ngon miệng ta thì ngon miệng người. Cái ngon với không ngon, thuận với không thuận, lý do bắt nguồn tứ chỗ sâu thẳm trong bản chất con người, trong bản chất mỗi giống người, bạn ơi.

Với con bún với sợi mì, người Tàu họ làm ra hàng trăm món ăn khác nhau, khô có nước có, để hàng ngày hể hả xì xà xì xụp với nhau. Marco Polo vất vả dắt con bún lòng thòng về Tây phương, nó trở nên hiếm muộn, chẳng sinh sôi nẩy nở được mấy. Người Mễ cứ trông thấy cái bột bắp vàng khè là sáng cả mắt lên. Ngày ngày trong từng gia đình họ vắt họ nặn bột bắp thành ra đủ mọi hình dạng thân yêu để đưa vào mồm. “Masa! masa!” của quí Trời ban. Họ cơ hồ không tin nổi rằng Thượng Ðế lại đi chọn đất sét để nặn làm người. Chẳng qua lúc bấy giờ chưa có bột bắp quết nhuyễn đấy thôi. Bột bắp mà được đặt lên chiếc lưỡi Mễ là nó run lên: đôi bên cùng run bắn lên vì sướng.

Bây giờ nói sang vần điệu thơ văn. Ngũ ngôn, thất ngôn, những vinh quang rực rỡ của thi ca Trung Hoa, chúng ta quen biết chúng hơn nghìn năm rồi, chúng vẫn chết khô chết héo trên chiếc lưỡi Việt Nam. Chỉ có mấy ông nho sĩ bắt buộc phải tập luyện, rồi viết ra, rồi ngâm ư ử với nhau hàng chục thế kỷ vẫn không ra làn điệu gì. Trong khi ấy hai câu lục bát, trời ơi, đêm ngày nó quấn quýt chiếc lưỡi Việt Nam. Hoặc đêm đêm trên võng mẹ à ơi ru con, hoặc dưới trăng vằng vặc chàng cùng nàng lả lướt ân tình, hoặc lúc canh tàn dầu hao bấc lụn nàng vò võ nhớ thương, hoặc trên sông chèo đò trên rừng đốn gỗ cùng hò cùng hố cho quên nhọc nhằn v.v., há miệng là lục bát tuôn ra ngay. Hăm bốn trên hăm bốn, không rời nhau. Lục bát trên chiếc lưỡi Việt Nam như bột bắp trên năm ngón tay người Mễ: nó thiên biến vạn hóa. Nó thành ra điệu hò này điệu hát kia, ra lý này lý nọ, ra cò lả, ra trống quân, ra quan họ, ra chèo, ra xẩm xoang v.v. Phối hợp với chiếc lưỡi Việt Nam, lục bát sinh sôi nảy nở ra vô vàn điệu hát câu ca...

- Thôi! Thôi! Bạn ca mãi câu lục bát như thế, biết bao giờ mới chịu trở về câu chuyện dịch thơ...

- Bạn đã thấy rồi mà. Ðâu còn chuyện nào gọi là chuyện dịch thơ nữa? Chỉ có công việc tái sáng tạo, tái tạo một bài thơ khác. Lấy cái ý cái tứ của bài gốc, sáng tạo ra một bài mới trong đó có phong cách riêng của mình, có quá nửa cái tình tứ riêng của mình, với cái giọng đặc biệt của mình, với điệu thơ riêng thích hợp cho miệng lưỡi mình.

Các cụ Ðoàn Thị Ðiểm, Nguyễn Khuyến làm nên những công trình như thế mà bạn dám bảo là các cụ dịch, là các cụ chỉ dịch thơ thôi. Tôi mách các cụ là bạn bỏ xừ nhé! Bạn liệu hồn.

Cho nên dịch thơ không phải là dịch.