Nước Tây Âu là một nước Bách Việt ra đời có lẽ vào khoảng giữa thiên kỷ 1 trước Tây lịch, mất vào khoảng năm -214 trong đợt bành trướng xuống Lĩnh Nam của nhà Tần. Tây Âu ở đại khái trong vùng Quảng Ðông, Quảng Tây, Quí Châu. Vị trí và diện tích chính xác chưa biết được chắc chắn.

Bình Nguyên Lộc cho biết trong hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây và nửa phía nam tỉnh Quí Châu, ở miền cao và ở bên ngoài các tỉnh lỵ, huyện lỵ, cư dân đa số là người Thái. Từ đó, ông suy ra xưa kia đã có một nước Thái chiếm toàn bộ diện tích Lưỡng Quảng và một nửa diện tích tỉnh Quí Châu bây giờ. Người Tàu nam tiến, diệt nước Thái, nhưng chỉ sinh sống ở đồng bằng và ở các lỵ sở của guồng máy cai trị.

Bình Nguyên Lộc lại cho biết người Thái vốn là người Âu. Do đó, nước Thái vừa nói trên chính là nước Tây Âu.

Ðọc xong lập luận của ông, nẩy đôi thắc mắc: thứ nhất, tuy hiện nay người Thái ở "rộng" như vậy, nhưng biết đâu họ vốn ở "hẹp" hơn? Biết đâu sau khi bị người Tàu xuống đánh, họ mới chạy tứ tung?

Thứ hai, BNL bảo người Thái có nhiều nhóm. Vậy biết đâu nước Tây Âu chỉ gồm một số nhóm Thái, chứ không phải gồm tất cả các nhóm Thái?

(Thu Tứ)

TB: Tại sao thị dân và dân ở đồng bằng trên khắp ba tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây và Quí Châu (nửa phía nam) lại đều gọi là "người Quảng Ðông"? Có phải gọi như thế phản ánh quá trình di dân của người Tàu sau khi chiếm đất Thái: đầu tiên họ xuống ở Quảng Ðông, rồi lần lần Tây tiến qua ở Quảng Tây và Quí Châu?



Bình Nguyên Lộc, “Nước Tây Âu”



tr. 235

Thuở ấy, vùng đó, Tàu nói rằng đang có hai ông vua, ông Trạch Hu Tống làm vua Tây Âu, ông An Dương Vương làm vua Âu Lạc (...)

tr. 290-293

(...) Tối tân Trung Quốc phân tỉnh đồ của Tàu (...) cho biết rằng tất cả các cổ dân ở Hoa Nam (...) đều còn đủ mặt (...)

(...) chúng tôi tìm được một bức dư đồ rất hữu ích, tên là Ethnolinguistico Groups of Mainland Southeast Asia do Human Relations Area Files (...) Yale University xuất bản

(...) Theo bức dư đồ đó thì hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây và nam Quí Châu là địa bàn hiện kim của dân Thái, một dân tộc rất cổ mà ngày xưa Tàu gọi là dân Âu (...)

(...) đây là dư đồ ngôn ngữ chớ không phải dư đồ chánh trị. Theo dư đồ chánh trị thì nơi đó là hai tỉnh rưỡi của Trung Hoa, nhưng về mặt phân phối ngôn ngữ thì nơi đó là vùng mà người dân nói tiếng Thái.

(...) phải hiểu điều này nữa về (...) dư đồ phân phối ngôn ngữ. Người Trung Hoa ở hai tỉnh Quảng Ðông và Quảng Tây, tuy mười lần đông hơn người Thái, nhưng diện tích đất mà họ chiếm chỉ bằng có 1/10 diện tích đất mà Thái làm chủ. Họ chỉ ở tỉnh lỵ, huyện lỵ và các đồng bằng của tỉnh Quảng Ðông và vài đồng bằng quá hiếm hoi của tỉnh Quảng Tây và nam Quí Châu. Sự phân phối ngôn ngữ luôn luôn đi sát diện tích đất ngự trị của cái ngôn ngữ đó. Vì thế mà trong loại dư đồ ấy, hai tỉnh rưỡi nói trên là đất Thái (...)

Mặt khác Tối tân Trung Quốc phân tỉnh đồ cho biết (...) không hề có nhóm người Tàu nào gọi là người Quảng Tây hết. Ở cả hai tỉnh rưỡi đó, chỉ có người Quảng Ðông mà thôi. Chi tiết trên đây rất quan trọng vì nó chứng minh rằng không có chủng tộc, dân tộc thứ nhì nào làm chủ vùng đó cả từ đời Tần, mà chỉ có (...) người Thái biến thành Tàu (...) gọi là người Quảng Ðông, và người Thái chưa biến thành Tàu (...) nhiều nhóm (...) như người Nùng (chữ nho là Nông) là một.

(...)

Tại sao ta biết rằng họ là người Thái biến thành Tàu? Như đã nói, các giọng nói địa phương của Tàu ăn khớp với địa bàn của các "man di" đời xưa. Mân Việt nói tiếng Tàu khác giọng với Quảng Ðông, và cả hai nói khác giọng với Triết Giang.

Hơn thế, và đây mới là điều quan trọng, mỗi nhóm giọng đều có giữ được lối một trăm danh từ cổ (...)

Nội một trăm danh từ địa phương sống sót này đủ cho ta biết rằng người Quảng Ðông gốc Thái (...)

Dĩ nhiên là trong hai tỉnh rưỡi ấy cũng còn dân thiểu số (...) như (...) người Mèo (...) người Choang (...) người Hẹ (...)

(...) nước Tây Âu (...) là nước của người Thái (...)


(Bình Nguyên Lộc,
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Sài Gòn, 1971)





____________________
Nhan đề do người chọn tạm đặt.