Thu Tứ, “Người nước khác nhìn ta”




Văn hóa Việt Nam truyền thống hay ơi là hay, thế mà thế giới chẳng mấy ai biết. Vì ta nay chưa giàu mạnh. Khi giàu mạnh, văn hóa cũ của ta sẽ được biết đến rộng rãi. Nhưng biết một cách hời hợt thôi, vì tinh hoa của nó không thể “dịch” được.

“Người có biết ta hay thì chớ
Chẳng biết ta, ta vẫn là ta”.

Đọc những phát biểu sau đây của một số trí thức Tây phương, hẳn nhiều người Việt Nam thấy hả dạ đôi phần...

Cả một nền văn minh

Đờ Pu-vuốc-vin phát biểu: “Chúng ta thấy ở đây cả một nền văn minh, mọi thứ đều xây dựng từ lâu. Nghệ thuật (…) (cách tổ chức) quản lý nhà nước đều đã phát triển mạnh mẽ. Luật pháp, cổ phong, tôn giáo, văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hòa hợp với nhau, trải qua bao thế kỷ, đã được điều hòa và ngày càng hoàn hảo thêm. Những vết tích man rợ đã mất đi từ lâu, dân tộc này đã sống trong một xã hội thuần thục có tổ chức trong khi những người phương Tây còn ở tình trạng bán khai. Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa (…) không sợ gian khổ, (sẵn sàng) hy sinh (...) là những đặc điểm (...) hình thành từ bao thế hệ”.(1) Nhân vật Tây phương này (tiểu sử chưa rõ) hiểu văn hóa Việt Nam lắm. Đặc biệt, ông ta lại đem so nó với văn hóa của chủng tộc mình. Hãy ôn nhanh thời Trung cổ ở châu Âu. Cái “Đêm” dài khoảng một nghìn năm (từ thế kỷ V đến thế kỷ XV) ấy thực đã vô cùng tối tăm. Chẳng hạn, năm 897 tòa thánh Va-ti-căng đã cho đào xác Giáo hoàng Formosus lên, đặt ngồi trên ngai để xét xử! Chẳng hạn, năm 1252 Giáo hoàng Innocent IV chính thức cho phép tra tấn để bắt những người dị giáo nhận “tội” (châu Âu Trung cổ rất nổi tiếng về những lối tra tấn cực kỳ dã man)! Và chẳng hạn, ở Tây-ban-nha quan tòa dị giáo Torquemada (do Giáo hoàng Sixtus IV bổ nhiệm năm 1483) đã cho tra tấn rồi đốt sống ít nhất 2.000 “tội nhân”!(2) Ở châu Âu, ngay cả sau khi trời đã “Sáng”, thời đại khoa học đã bắt đầu, văn hóa tinh thần vẫn tiếp tục có những biểu hiện hết sức kém mở mang: trong ba thế kỷ 16, 17, 18, ít nhất 200.000 người dân đã bị tra tấn, rồi đốt sống hay treo cổ, vì bị tình nghi là phù thủy!(3) Về tổ chức cai trị, “vua” Tây thời Trung cổ thực ra chỉ là một lãnh chúa lớn mà thôi.(4) Trong cùng khoảng thời gian, ở bên ta không hề có xảy ra những chuyện lạc hậu đến mức kỳ dị như vậy. Từ đầu thời Đại Việt giới trí thức ta đã thấm nhuần sâu sắc minh triết của đạo Phật. Vua ta không phải là lãnh chúa, mà là người đứng đầu một nhà nước tập quyền lấy dân tộc làm nền tảng quốc gia. Ta là người đã văn minh từ rất lâu mà nay để sống còn phải chuyển hóa văn minh, chứ không phải là người bán khai nay mới bắt đầu văn minh! Trong khi chuyển hóa, ta phải giữ cái sự thể của người đã văn minh. Phải bình tĩnh học hay bỏ dở, không cắm đầu cắm cổ bắt chước!

Phải sánh Việt với Nhật

Paul Doumer, Toàn quyền Đông Dương 1897-1902, trong hồi ký xuất bản ở Pháp năm 1905: “Phải sang đến tận Nhật Bản người ta mới thấy được một giống dân tương xứng và giống với người Việt. Cả hai giống người Việt và Nhật (...) đều thông minh, chăm chỉ và can đảm (...) Họ vượt xa các dân khác (ở Đông Nam Á)”.(5) Vào thời điểm Doumer phát biểu nhận định này, dân tộc Việt Nam đang ê chề nhục nhã, trong khi dân tộc Nhật Bản đang tột đỉnh vinh quang (vừa đại thắng Nga). “Khen cho con mắt tinh đời / Anh hùng đoán giữa trần ai mới già”! Nhưng Doumer chắc chỉ mới biết đại khái cái trình độ tiến hóa của người Việt Nam, chứ chưa biết gì cả về những thành tích của cái nền văn hóa chủ cảm vô cùng tinh tế mà tổ tiên ta qua bao đời đã bồi đắp nên. Tinh hoa Bách Việt là đây!

Cách nói bằng mắt

Pierre Huard, bác sĩ, hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội (1947-1954), phát biểu trong thời gian ở Việt Nam: “Bộ mặt người Việt không diễn cảm lắm (...) thản nhiên, thậm chí không thể hiểu nổi (...) một sự tái hiện nhất định nào đó các đặc trưng tinh thần của tổ tiên (...) Một nền giáo dục rất đặc biệt từ bao thế kỷ đã góp phần tạo thành bộ mặt này (...) Ðôi mắt họ (...) rất diễn cảm”.(6) Bây giờ thì nhiều người Việt Nam đã quen mắt lắm rồi, thấy tự nhiên lắm, thậm chí chính họ cũng đã như thế rồi. Là nói cái chuyện người Tây phương nói bằng cả cơ thể. Cái gì mà cứ hễ miệng mở là trán nhăn mày nhướng, mặt quay qua quay lại, đầu gục gặc, là hai bàn tay giơ ra, múa máy như làm... ảo thuật! Tổng thống trình bày quốc gia đại sự múa tay, mục sư giảng đạo múa tay, đến ca sĩ hát thì ôi thôi, múa nẩy lắc ngoáy không chừa một bộ phận nào! Dưới mắt người Á Ðông xưa kia, như thế là rất khó coi. Các cụ ta quý cái vẻ ôn tồn, điềm đạm. Vẻ mặt vẻ người, triết lý hiện hình đấy! Khác nhau là bởi nhân loại ở Á Ðông vốn xem mình bất quá một phần nhỏ mọn của toàn thể, trong khi nhân loại ở Tây phương tự cho mình là... cái rốn của vũ trụ. Vẻ mặt vẻ người dĩ nhiên cũng là văn hóa. Tây nghĩ nhiều cảm ít. Ta nghĩ ít cảm nhiều. Trông những bàn tay “hùng biện” của Tây, nghĩ đến lý kia lẽ nọ. Nhìn vào những mắt “rất diễn cảm” của ta, thấy một trời cảm xúc...

Tiếng Việt, tiếng Tàu

Cristophoro Borri, nhà truyền giáo người Ý, phát biểu sau khi viếng Đàng Trong năm 1621: “Mặc dầu ngôn ngữ của người Đàng Trong cũng giống ngôn ngữ của người Trung Hoa, vì cũng như người Trung Hoa họ dùng những từ chỉ có một vần nhưng đọc và xướng lên với nhiều cung và giọng khác nhau, giữa hai ngôn ngữ có sự khác biệt: tiếng Đàng Trong dồi dào hơn về nguyên âm, vì thế dịu dàng và êm ái hơn”.(7) Crisphoro Borri nêu tiếng Đàng Trong vì ông chỉ biết nhiều về Đàng Trong. Thực ra, về vần thì tiếng Đàng Ngoài lại còn dồi dào hơn nữa. Năm 1932, Tản Đà phát biểu: “Chữ quốc ngữ của ta, âm và vận so với chữ nước khác, hãy nói như chữ Tàu, thì rất là giàu đủ và tách bạch hơn”.(8) Trong sách nghiên cứu chữ Nôm xuất bản năm 1975, Đào Duy Anh có bàn cụ thể về đặc điểm này.(9)

Một lối ăn riêng

Tomita Kenji, giáo sư ở Ðại học Ngoại ngữ Osaka, phát biểu năm 1996: “Người Việt Nam (...) có một lối ăn riêng (...) phong cách ăn của người Việt Nam đôi khi còn mang tính dân tộc hơn cả ngôn ngữ”.(10) Ta ăn độc đáo hơn ta nói? Không phải vậy đâu. Sở dĩ người nước ngoài có cảm tưởng thế, ấy chỉ là vì cái ăn nó dễ “thấy” hơn cái nói nhiều. Nhưng ai thấy được tới đâu, ta nên cảm ơn họ tới đó!

Gốm Việt nhất Đông Nam Á

John Stevenson, chuyên gia người Mỹ, và John Guy, chuyên gia người Anh, phát biểu năm 1997: “Gốm Việt là một kết hợp độc đáo giữa sáng tạo bản địa và một số yếu tố ngoại lai từ Trung Quốc, Khơ-me, Chàm và Ấn-độ. Các hoa văn trang trí, các loại men, các phương pháp chế tác, có lẽ ngay cả quan niệm về đồ gốm, đều khác hẳn Trung Quốc. Dùng thứ đất sét rất tốt ở châu thổ sông Hồng – mịn, ít tạp chất, sắc xám trắng – người Việt đã tạo ra những món đồ gốm tinh tế nhất vùng Đông Nam Á”.(11) Trương Chính và Đặng Đức Siêu trong Sổ tay văn hóa Việt Nam (1978) chép: “Gốm Việt Nam (...) đời Lý (...) Các loại đồ ngự dụng, dân dụng, nhiều khi cả vật liệu xây dựng, được phủ men nâu, men ngọc, men ngà, được trang trí (...) rất tinh tế. Đặc sắc nhất là loại bát đĩa men ngọc xanh mà các nhà khảo cổ tìm thấy ở hải cảng Vân Đồn (...) Thứ men này khác với men xanh Trung Quốc đời Tống, từ chất liệu men đến kỹ thuật chế tác, độ lửa nung (...) Đồ gốm đời Trần nước men càng đẹp, phần nhiều men trắng làm nền và trang trí bằng men nâu da lươn hoặc xanh chàm”. Chúng tôi cũng đã được xem khá nhiều đồ gốm Lý - Trần và cả đồ gốm cổ bên Tàu. Chúng tôi nhận thấy về kỹ thuật gốm ta luôn thua gốm Tàu nhưng về mỹ thuật lại có giá trị hơn, nhất là vào đời Trần. Sản phẩm Đại Việt tiêu biểu đẹp mộc mạc mà tinh tế. Trang trí “hoa nâu” trên gốm Trần, chẳng hạn, thường chỉ là vài nét men đơn sơ trên nền trắng ngà, nhưng thật ưa nhìn. Sản phẩm Trung Quốc tiêu biểu thì cầu kỳ và tinh xảo, nghĩa là rắc rối và khéo. Khéo chứ không phải đẹp. Mỹ thuật gốm Tống còn tương đối thoáng, Nguyên bắt đầu “chật”, đến Minh, Thanh thì chật ních. Chẳng những chật hình chật nét, mà còn chật cả... màu sắc nữa. Cái bình đời Thanh trang trí rậm rịt, sặc sỡ, bán được 70 triệu đô năm 2010, nói thực, nom.. nản quá!

Việt Nam và Thái-lan

Gerald W. Fry, giáo sư ở Đại học Minnesota, Mỹ, phát biểu năm 2012: “Ở Đông Nam Á, về kinh tế Việt Nam đã trở thành một đối thủ lợi hại của Thái-lan trong nhiều lĩnh vực: du lịch, điện tử, dệt, xuất khẩu gạo và các loại thực phẩm khác (kể cả hải sản) v.v. Chẳng hạn, Thái-lan vốn là nơi công ty Nike (Mỹ) đặt nhiều cơ xưởng, bây giờ phần lớn hoạt động sản xuất của công ty này đã chuyển sang Việt Nam (...) Năm 1986 Việt Nam quyết định “đổi mới”, theo kinh tế tư bản. Từ bấy đến nay, kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng. Với dân số hiện giờ là 91 triệu rưỡi (gấp đôi dân số năm 1975) Việt Nam có một nguồn lao động lớn, giá rẻ, lại rất hăng hái, để huy động vào việc xây dựng một nền công nghệ hiện đại... Về nhiều mặt, đất nước Việt Nam ngày hôm nay làm tôi nghĩ đến Nhật Bản trước kia”.(12) Có một số người Việt Nam trầm trồ kinh tế Thái-lan mà phàn nàn kinh tế ta phát triển chậm. Sự thực là chính ta mới nhanh, chính họ mới chậm!(13) Có lẽ cũng nên biết ta còn hơn họ về thành tích văn hóa nữa.(14) Người Thái-lan về máu huyết rất gần với người Việt Nam. Tại sao xẩy ra chênh lệch? Phải chăng vì họ theo đạo Phật là tôn giáo không lấy việc trần gian làm quan trọng? Nhưng đạo Phật cũng là tôn giáo chính ở ta… Chợt nghĩ đến cái tinh thần tiến thủ hết sức mạnh mẽ được hun đúc từ thực tế đời sống đặc biệt khó khăn: tổ tiên ta đã phải đối phó với môi trường tự nhiên đầy thử thách (15), cùng lúc với mối đe dọa sinh tử từ phương bắc. Hẳn chính cái tinh thần đó đã khiến khi vào đất ta Phật giáo phải nhập thế chứ không kéo được dân tộc xa đời... Tuy nhiên, ta chớ tưởng chỉ có quyết tâm vươn lên không ngừng thôi mà chắc chắn sẽ hóa “cọp”, hóa “rồng” nay mai. Tinh thần tiến thủ của nhân dân phải được lãnh đạo vận dụng đúng hướng trong một thời gian rất dài thì đất nước mới trở nên thực sự giàu mạnh. Lãnh đạo cũng cần thẳng tay diệt trừ tiêu cực, ở mọi cấp.


Viết năm 2012
Sửa tháng 5-2017
In trong sách
Cảm nghĩ miên man, q. II, 2017







___________
(1) Dẫn theo
Hồ Chí Minh toàn tập, 1995, tập 1.
(2) Xem trang
encyclopedia.com và trang jewishvirtuallibrary.org.
(3) Xem trang
en.wikipedia.com.
(4) Trần Quốc Vượng,
Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, nxb. Văn Hóa Dân Tộc, 2000.
(5) Dẫn theo Phạm Cao Dương,
Lịch sử dân tộc Việt Nam, q. I, California, Mỹ, 1987.
(6) Dẫn theo Nguyễn Văn Huyên,
Văn minh Việt Nam, 1944, nxb. Hội Nhà Văn, 2005.
(7) Cristophoro Borri,
Xứ Ðàng Trong năm 1621, nxb. Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998.
(8) Tản Ðà, “Mối cảm tưởng về thơ ca của nước ta”, 1932, in lại trong
Luận về quốc học, nxb. Ðà Nẵng, 1999.
(9) Đào Duy Anh,
Chữ Nôm - nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, 1975.
(10) Dẫn theo Nguyễn Xuân Hoa, “Thực phổ bách thiên và 100 món ăn nấu theo lối Huế”,
Sông Hương dòng chảy văn hóa - tuyển chọn 1983-2003, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, 2003.
(11) John Stevenson & John Guy,
Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition, Art Media Resources, Mỹ, 1997.
(12) Gerald W. Fry, “Thais can learn much from Vietnam”, trang
nationmultimedia.com, 27-8-2012.
(13) Xem bài “Trường kỳ cải thiện” của TT.
(14) Phan Ngọc,
Bản sắc văn hóa Việt Nam, 1998: “so với các nước ÐNA (...) Việt Nam (...) có (...) một truyền thống văn hóa, những thành tích văn hóa có thể nói là trội hơn”.
(15) Đào Duy Anh,
Việt Nam văn hóa sử cương, 1938: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không một mẫu đất nào là không có dấu vết công trình thảm đạm kinh dinh của tổ tiên ta”.