Nếu đúng như Trần Ngọc Thêm nói dưới đây thì ta đã thu được từ người Chàm một món quý hóa quá: một giống lúa trồng được vào khoảng thời gian trong năm mà giống lúa riêng của ta không sống nổi.

Nếu vụ chiêm thu hoạch tương đương với vụ mùa, thì tức là nhờ có lúa chiêm mà lượng lúa thu hoạch mỗi năm tăng gấp đôi, nuôi thêm được bao nhiêu dân!

Ta bắt đầu trồng lúa chiêm bao giờ?

Có lẽ cái tên gọi là một manh mối. Ta gọi "vàng Hời", "thành Lồi", "chúa Lồi", "tháp Chàm" v.v. Tại sao gọi lúa chiêm, mà không gọi lúa Hời, lúa Lồi, lúa Chàm?

Theo
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2004), chiêm còn có nghĩa là "sinh không đúng mùa; trái mùa", ví dụ na chiêm, ổi chiêm. Hẳn nghĩa này là do nghĩa kia...

(Thu Tứ)



Trần Ngọc Thêm, “Lúa chiêm, lúa Chiêm”



Cây lúa cần nhiều nước nên ban đầu, chỉ có một vụ lúa vào mùa có nhiều mưa (hè thu) gọi là lúa mùa (1). Về sau có thêm loại lúa có khả năng chịu hạn vào mùa khô (đông xuân) gọi là lúa chiêm. Lúa chiêm xuất xứ từ Chiêm Thành khô hạn nên có câu thành ngữ Chiêm Nam, mùa Bắc, và tên gọi "lúa chiêm" chỉ phổ biến ở phía Bắc, còn miền Trung thì hầu như không dùng.


(Trần Ngọc Thêm,
Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. TPHCM, VN, 2001, in lần 3, tr. 344)





_______________
Nhan đề do người chọn tạm đặt.
(1) Từ "mùa" trong tiếng Việt có sự phát sinh nghĩa khá phức tạp: Khởi đầu với nghĩa "khoảng
thời gian trong năm" (mùa xuân), "mùa" được dùng để chỉ "thời gian trồng lúa" (mùa lúa) và "thời gian thu hoạch lúa" (mùa màng), rồi chuyển thành tên gọi chỉ một loại lúa (lúa mùa). (TNT)