Thu Tứ, “Nguyễn Khuyến - Đưa quê vào thơ”




Hình như nhắc việc học hành thi cử của Nguyễn Khuyến, người ta hay nhớ cái danh Tam Nguyên mà ít nhớ rằng ông cũng lao đao trường ốc có hạng. Nguyễn Khuyến thi Hương rớt liên tiếp bốn khoa (1852, 1855, 1858, 1861), đến nỗi phải “nghĩ”: “Nghĩ tôi lại gớm cái mình tôi / Tuổi đã ba mươi kém một thôi / Bốn khoa hương thí không đâu cả / Một mảnh vườn hoang bán sạch rồi”. Mãi năm 1864 ông mới đỗ cử nhân. Tuy đỗ đầu thi Hương, nhưng vào thi Hội ông lại trượt liên tiếp ba khoa, đến năm 1871 mới đỗ thi Hội, thi Ðình (lại đỗ đầu).

Gần hai mươi năm mới xong “khoa”. Còn “hoạn”, tiếng rằng làm quan từ năm 1871 đến 1884, nhưng trong khoảng ấy Nguyễn Khuyến đã về quê cư tang mẹ mất ba năm; khoảng hai phần ba thời gian tại chức, ông làm học quan hay sử quan chứ không phải quan cai trị.(1)

Đời sống dĩ nhiên ảnh hưởng đến văn chương. So với Nguyễn Công Trứ, thời trước khi xuất chính của Nguyễn Khuyến hình như ít khó khăn hơn, và không kéo dài bằng vì ông đỗ tuy muộn nhưng vẫn sớm hơn Nguyễn Công Trứ; khi ra làm quan, Nguyễn Khuyến lại tương đối ít gặp cảnh bon chen. Hẳn một phần do đó mà thơ ông không có nhiều bài than đời như thơ Nguyễn Công Trứ.

Hai Nguyễn tâm sự riêng khác, mà cảm nghĩ về chuyện nước non cũng khác. Nguyễn Công Trứ làm quan vào thời đất nước còn hoàn toàn độc lập, nên phấn khởi, hào hứng. Nguyễn Khuyến làm quan khi giặc Pháp đã bắt đầu tiến hành chiến tranh xâm lược, nên vừa căm tức giặc hà hiếp vừa chán nản trước sự bất lực của triều đình Huế; sau khi nước mất, căm chán chuyển sang hận giặc cướp tài nguyên bóc lột sức dân và “đau đớn lòng” trước bao nhiêu “điều trông thấy” quanh mình...

Nho sĩ ái quốc buồn chung canh cánh, làm sao vui riêng cho trọn? Dù đi hát quên về nhà như Tú Xương, hay rượu tì tì như Tản Đà, thì lòng vẫn không thực thoải mái. Nguyễn Khuyến cũng có hát nói, nhưng “đôi tiếng trống” không nghe “thùng thùng” rộn rã; trái lại, khi trông thấy con mình hào hứng quá, cụ Tam Nguyên đã không dằn được mà lên tiếng trách: “Sao con đàn hát vẫn say sưa?”.

Người ít chơi, lẽ tự nhiên trong thơ ít thấy cái chơi. Mặt khác, sau khi cáo quan, Nguyễn Khuyến đã sống giữa quê hàng một phần tư thế kỷ nữa mới mất, chắc nhờ đó trong thơ ông ta rất hay thấy quê. Thơ nôm trong mùa cổ điển, một tài thơ lớn bỗng về làng ở rất lâu, ấy như thể là sự xếp đặt của hồn nước để cái nơi sống chính của bao nhiêu thế hệ người Việt nó được vinh danh đích đáng trong thơ Việt! Thử nghĩ: về nội dung, nếu không có những bài thơ quê của Nguyễn Khuyến, thì văn học chữ nôm sẽ thiếu sót đến chừng nào!

Ngoài chứa hình ảnh quê, thơ Nguyễn Khuyến còn đậm đà màu sắc dân tộc ở khuynh hướng “Xuân Hương” lồ lộ trong một số bài.

Ðầy một bụng chữ Tàu mà vẫn không mảy may nguôi lòng Việt là nét riêng nổi bật của một nho ta. Nhưng thực ra, đó cũng là điển hình cho hầu hết nho ta.

Khóc Dương Khuê

“Bác Dương thôi đã thôi rồi / Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta / Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước / Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau / Kính yêu từ trước đến sau / Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời / Cũng có lúc chơi nơi dặm khách / Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo / Có khi từng gác cheo leo / Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang / Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp / Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân / Có khi bàn soạn câu văn / Biết bao đông bích, điển phần trước sau / Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn / Phận đẩu thăng chẳng dám than trời / Bác già, tôi cũng già rồi / Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là! / Muốn đi lại tuổi già thêm nhác / Trước ba năm gặp bác một lần / Cầm tay hỏi hết xa gần / Mừng rằng bác hãy tinh thần, chưa can / Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác / Tôi lại đau trước bác mấy ngày / Làm sao bác vội về ngay / Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời / Ai chẳng biết chán đời là phải / Sao vội vàng đã mải lên tiên / Rượu ngon không có bạn hiền / Không mua không phải không tiền không mua / Câu thơ nghĩ đắn đo không viết / Viết đưa ai, ai biết mà đưa / Giường kia treo những hững hờ / Ðàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn / Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở / Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương / Tuổi già hạt lệ như sương / Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan”. Bài “Khóc Dương Khuê” kết hợp một cái hay gặp với một cái ít gặp nơi thơ Nguyễn Khuyến. Cái hay gặp là chuyện làm thơ chữ Hán rồi tự dịch ra chữ nôm. Cái ít gặp là thể ngâm, tức song thất lục bát. Không biết người Tàu như có đọc đến bài “Vãn đồng niên Vân Ðình tiến sĩ Dương thượng thư” thì thấy thế nào, chứ người Việt nghe cụ Nghè Nguyễn ngâm nga khóc cụ Nghè Dương, tưởng có ai mà không buột miệng trầm trồ khúc ngâm hay đáo để!

Thu vịnh

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao / Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu / Nước biếc trông như tầng khói phủ / Song thưa để mặc bóng trăng vào / Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái / Một tiếng trên không ngỗng nước nào? / Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Ðào”. Bài thơ thu này của Nguyễn Khuyến có đôi chỗ khó hiểu, may có Xuân Diệu đã tìm hiểu và giảng cho chúng ta. Trời xanh ngắt là ban ngày, sao lại có trăng? Theo Xuân Diệu, đó là vì Nguyễn Khuyến tổng hợp đêm ngày để khái quát cảnh thu. Cần trúc sao lại lơ phơ? Vì đó không phải cần câu, mà là “cây tre (...) còn non, ít lá, thanh mảnh (...) như cái cần câu”.(2) Vẫn theo Xuân Diệu, trong ba bài thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến, bài này “mang cái hồn của cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao (...) Hồn (...) của cảnh thu (...) nằm ở trong bầu trời, ở trên trời (...) Trời thu rất xanh rất cao tỏa xuống cả cảnh vật”. Tại sao Nguyễn Khuyến thẹn với Ðào Tiềm? Vì khi ấy ông chưa thôi làm quan, hay vì ông đã trót làm quan lâu hơn Ðào Tiềm?

Trở về vườn cũ

“Vườn Bùi chốn cũ! / Bốn mươi năm, lụ khụ lại về đây / Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây / Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế! / Bành Trạch cầm xoang ngâm trước ghế / Ôn công rượu nhạt chuốc chiều xuân / Ngọn gió xuân ngảnh lại lệ đầm khăn / Tính thương hải tang điền qua mấy lớp / Ngươi chớ giận Lỗ hầu chẳng gặp / Như lơ phơ tóc trắng lại làm chi? / Muốn về sao chẳng về đi!”. Ðời làm quan của Nguyễn Khuyến tương đối ngắn: từ 1871 đến 1884, chỉ có 14 năm. Vậy “bốn mươi năm” đây không phải tính từ lúc ông xa quê đi làm quan, xem kỹ tiểu sử thì thấy đó là từ ngày ông theo cha mẹ về “xứ Vườn Bùi” lần thứ nhất.(3) Bài thơ này diễn nôm bài “Bùi viên cựu trạch ca” cùng tác giả. Nguyễn Khuyến nổi tiếng ưa làm thơ chữ Hán rồi dịch qua tiếng Việt (biết đâu thỉnh thoảng ông có làm ngược lại mà ta không biết!). Ông yêu tiếng mẹ đẻ, cái ấy hiển nhiên. Còn những bài thơ chữ Hán, ông làm là để khỏi quên vốn liếng của một Tam Nguyên đó chăng? “Ngươi” tiếc chẳng gặp Lỗ hầu, thế là “ngươi” chê đương kim thánh thượng!(4)

Thu điếu

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo / Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo / Sóng biếc theo làn hơi gợn tí / Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo / Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt / Ngõ trúc quanh co khách vắng teo / Tựa gối, buông cần lâu chẳng được / Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Hồi thế kỷ 15, chắc do sáng tác trong thời gian Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, Quốc âm thi tập có chứa rau muống, mồng tơi, dọc mùng v.v. Đến thế kỷ 19, chắc nhờ Nguyễn Khuyến trở lại Vườn Bùi ở suốt một phần tư thế kỷ, văn học Việt Nam cổ điển bỗng có một số bài thơ chứa mùa thu thôn quê Bắc bộ, ao, cá, gà, cải, cà, bầu, mướp, trầu, chỗ lội, đàn bà vén quần, con cúi, miếu ông Cuội, con trâu “sáng tai họ, điếc tai cày”, lợn con, nếp cái, chiếc lá (thung thăng), cá khe, chim núi, trai, cò, bèo, anh kình, chú chuối v.v. Ờ, nhưng một số thi nhân khác cũng có thời về làng, mà thơ họ vắng cảnh vật xóm làng... Sực nhớ, khi họ ở Thăng Long, lúc cầm bút gieo vần họ cũng thường để Thăng Long bị vắng! Xưa kia, thơ tiếng Việt chứa hình ảnh đất Việt không có mấy ai làm đâu.

Bài di chúc

“Kém hai tuổi xuân đầy chín chục / Số thầy sinh phải lúc dương cùng (5) / Ðức thầy đã mỏng mòng mong / Tuổi thầy lại thọ hơn ông cụ thầy / Học chẳng có rằng hay chi cả / Cưỡi đầu người kể đã ba phen / Tuổi thầy tuổi của gia tiên / Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày / Ấy thuở trước ông mày cũng đỗ / Hóa bây giờ cho bố làm nên / Ơn vua chửa chút báo đền / Cúi trông thẹn đất, ngửa lên thẹn trời / Sống không để tiếng đời ta thán / Chết lại về quê quán hương thôn / Mới hay trăm sự vuông tròn / Sống lâu đã trải, chết chôn chờ gì / Ðồ khâm liệm chớ nề xấu tốt / Kín chân tay đầu gót thì thôi / Cỗ đừng to lắm con ơi / Hễ ai chạy lại, khuyên mời người ăn / Tế đừng có viết văn mà đọc / Trướng đối đừng gấm vóc làm chi / Minh tinh con cũng bỏ đi / Mời quan đề chủ, con thì không nên / Môn sinh chớ bỏ tiền đặt giấy / Bạn của thầy cũng vậy mà thôi / Khách quen chớ viết thiếp mời / Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu / Chẳng qua nợ để cho người sống / Chết đi rồi còn ngóng vào đâu / Lại mang cái tiếng to đầu / Khi nay bày biện, khi sau chê bàn / Cờ biển của vua ban ngày trước / Lúc đưa thầy, con rước đầu tiên / Lại thuê một lũ thợ kèn / Vừa đi vừa thổi, mỗi bên dăm thằng / Việc tống táng lăng nhăng qua quít / Cúng cho thầy một ít rượu hoa / Ðề vào mấy chữ trong bia / Rằng: “Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu””. Đây cũng là Nguyễn Khuyến dịch thơ chữ Hán của mình. Bản dịch làm theo thể ngâm, như bài “Khóc Dương Khuê”. Khóc bạn, ngâm, dặn con khóc mình, ngâm, à, cứ khóc thì ngâm! Ðọc “di chúc” thấy hay, bỗng nhớ một lời khen viết đã lâu lắm. Hồi tiền chiến, Thùy Thiên bảo: “Văn ông Yên Ðổ dẫu hay cũng chỉ có cái giọng kiêu”.(6) “Ông” có kiêu không, kiêu những chuyện gì, đọc kỹ lời dặn con bằng thơ này ắt sẽ rõ. Văn cụ Tam Nguyên dẫu có kiêu thì cũng vẫn hay!

Bạn đến chơi nhà

“Chẳng mấy khi nay bác tới nhà / Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa / Ao sâu nước cả, khôn mò cá / Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà / Cải đã tàn cây, cà chửa nụ / Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa / Ðầu trò tiếp khách, trầu không có / Bác đến chơi đây, ta với ta!”. Nhớ bài “Khách chí” của Ðỗ Phủ: “Quanh nhà nam bắc lụt to / Hôm hôm chỉ thấy đàn cò lại chơi / Lối hoa chẳng quét vì ai / Cửa bồng nay mới đón ngài mở ra / Xuềnh xoàng mâm chén, chợ xa / Có vò rượu cũ của nhà nấu thôi / Nếu cho tiếp rượu cùng vui / Gọi ông hàng xóm sang ngồi chén luôn” (Trần Trọng Kim dịch). Hai bài đều hay, nhưng thơ Nguyễn hóm hỉnh, còn thơ Ðỗ thì không.

Đống ông Cuội

“Ðầu đường ngang có một chỗ lội / Có miếu ông Cuội cao vòi vọi / Ðàn bà đến đó vén quần lên / Chỗ thời đến háng, chỗ đến gối / Ông Cuội ngồi trông mỉm miệng cười: / “Cái gì trông trắng như con cúi?” / Vội vàng khép nép đứng liền thưa: / “Trót dại hở hang xin xá tội!” / Ông rằng: “Mày cũng chẳng tội gì / Chỉ tội làm ông cứng con buội / Muốn tốt mày về bảo làng mày: / Ra đây ông cho giống ông Cuội” / Cho nên làng ấy sinh ra người / Sinh ra rặt những thằng nói dối”. Cái câu số mười! Nhà nho “cưỡi đầu người kể đã ba phen”, nhà nho đã thồn đầy bụng mình bao nhiêu lời thánh, bao nhiêu chữ hiền, lại đi thơ thẩn bằng thứ lời không “thánh” chút nào, thứ chữ không “hiền” chút nào vậy sao? Vậy thì sao? Nguyễn Khuyến Tam Nguyên bất quá là Nguyễn Khuyến vỏ. Còn cái ông Nguyễn Khuyến ruột, ông ấy vẫn là một người Việt Nam chính cống. Xưa kia nếu thực là người Việt, không ai kiêng kỵ thứ lời ấy, chữ ấy đâu. Ðối với chuyện trai gái ăn nằm, các cụ nho ta vốn vẫn giữ cái nhìn cởi mở, hồn nhiên, chứ không có cái lối nghiêm nghiêm trang trang, quay mặt nhắm mắt như các nho Tàu đâu.(7) Nho bên Tàu làm vô số thơ mà đố ai tìm được một bài có “âm hộ” hay “dương vật”. Nho bên ta làm ít thơ hơn mà “buội” hiện ra không phải chỉ một lần này. Người Việt vốn ít lý luận lôi thôi, nhưng về riêng cái chuyện trai trai gái gái, tổ tiên ta có để lại lời: “Ai dám bảo chữ dâm là bậy / Không có dâm sao có nẩy ra hiền”.

Hội Tây

“Kìa hội Thăng Bình tiếng pháo reo / Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo / Bà quan tênh nghếch xem bơi trải / Thằng bé lom khom nghé hát chèo / Cậy sức cây đu nhiều chị nhún / Tham tiền cột mỡ lắm anh leo / Khen ai khéo vẽ trò vui thế / Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu”. Hội Thăng Bình là hội mừng ngày Cách mạng Pháp 14-7. Hội ấy dĩ nhiên mới ra đời sau ngày nước Việt Nam bỗng có... mẹ (!!!). Ngày lễ lớn ở nước mẹ, dân nước con cũng được tha hồ vui chơi. Dân, ở đâu cũng thế, đa số biết gì vinh nhục. Dân càng “vui thế bao nhiêu” thì cha mẹ dân như Nguyễn Khuyến càng thấy “nhục bấy nhiêu”. “Bà quan” hẳn là phu nhân của một quan “Ðại Pháp”, vì chỉ các bà “đầm xòe” mới có lối ngồi “tênh nghếch”...

Tự trào

“Ta cũng chẳng giàu, cũng chẳng sang / Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng / Cờ đang dở cuộc, không còn nước / Bạc chửa thâu canh, đã chạy làng / Mở miệng nói ra gàn bát sách / Mềm môi chén mãi tít cung thang / Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ! / Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!”. “Bảng vàng”, “bia xanh”, “cưỡi đầu người (…) ba phen”, sang để đâu cho hết! “Cờ đang dở cuộc (…) / Bạc chửa thâu canh (…)”, hai cái câu này, có phải Nguyễn Khuyến là người đầu tiên đưa ra không nhỉ? Dù sao, sau Nguyễn Khuyến thỉnh thoảng ta lại gặp nó ở chỗ nọ chỗ kia...

Anh giả điếc

“Trong thiên hạ có anh giả điếc / Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây! / Chẳng ai ngờ “sáng tai họ, điếc tai cày” / Lối điếc ấy sau này em muốn học / Tọa trung đàm tiếu, nhân như mộc / Dạ lý phan viên, nhĩ tự hầu (8) / Khi vườn sau, khi ao trước, khi điếu thuốc, khi miếng trầu / Khi chè sen năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu / Tỉnh một chốc, lâu lâu rồi lại điếc / Ðiếc như thế ai không muốn điếc! / Ðiếc như anh dễ bắt chước ru mà / Hỏi anh, anh cứ ậm à!”. Dùng tục ngữ trong thơ, tại sao không? Thơ chuộng súc tích, mà tục ngữ thì rất súc tích. Hơn nữa, cái câu tục ngữ rất Việt ấy nó lại giúp “chữa” bớt sự có mặt của hai câu tiếng Tàu trong bài thơ tiếng Việt. “Anh giả điếc” tất nhiên không phải lười biếng như trâu. Chẳng qua trong buổi nước nhà mất độc lập, làm việc nhiều khi là làm những việc không ra gì, nên anh mới “khéo ngơ ngơ ngác ngác” để khỏi bị vấy tay...

Thu ẩm

“Năm gian nhà cỏ thấp le te / Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe / Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt / Làn ao lóng lánh bóng trăng loe / Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? / Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe / Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy / Ðộ năm ba chén đã say nhè”. Thu, ẩm đêm tốt, ẩm ngày cũng tốt. “Bán dạ tam bôi…”, rồi “bán nhật tam bôi…”... Thu đêm chưa phỉ lại thu ngày”(9), cho nên mới trời “xanh ngắt” tiếp “đêm sâu”... Rượu hay không bằng hay rượu. Nhưng có thực là “lão” rượu không hay? “Say nhè”, sao đóm lập lòe cũng thấy, khói phất phơ cũng thấy, bóng trăng loe dưới ao cũng thấy?! Chữ hay (nên đỗ đầu ba lần), rượu hay (nên rượu mà vẫn tỉnh), thơ hay (ai cũng biết). Ối, cụ Tam Nguyên Ba Hay!

Lụt hỏi thăm bạn

“Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu / Lụt lội năm nay bác ở đâu? / Mấy ổ lợn con, rày lớn bé? / Vài gian nếp cái, ngập nông sâu? / Phận thua suy tính, càng thêm thiệt / Tuổi cả chơi bời, họa sống lâu / Em cũng chẳng no, mà chẳng đói / Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu”. “Bác Châu Cầu” là Bùi Văn Quế ở Hà Nam, đỗ cử nhân cùng khoa với Nguyễn Khuyến, làm quan đến tuần phủ, khi về nghỉ hưu lại kinh doanh nuôi lợn và nấu rượu. Ðành “sĩ kiêm bách nghệ”, tức nhà nho làm nghề gì cũng được, mà làm giàu cách chân chính thì Khổng tử không hề bài bác, nhưng liệu sống ở đời có phải tích cực đến thế này chăng? Lụt lội “bác” phờ râu lo lợn lo nếp, còn “em” được thể nước trắng đồng, đưa luôn “chiếc lá” lên đồng mà “thung thăng”... “Nên chăng nghĩ lại kẻo nhầm”(10), “bác” ơi.

Hoài cổ

“Nghĩ chuyện đời xưa cũng nực cười / Sự đời đến thế, thế thời thôi! / Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm / Nước độc ma thiêng mấy vạn người / Khoét rỗng ruột gan trời đất cả / Phá tung phên giậu hạ di rồi / Thôi thôi đến thế thời thôi nhỉ / Mây trắng về đâu nước chảy xuôi”. Dĩ nhiên thực là “nghĩ chuyện đời nay cũng nực... khóc”. Nguyễn Khuyến ức giặc Pháp bắt người Việt “khoét rỗng ruột gan” đất Việt cho chúng tha hồ chở tài nguyên về làm giàu nước chúng đó. “Mây trắng về đâu...” nhắc “Bạch vân vô tận thì”. Bạn của Vương Duy khi “qui ngọa Nam Sơn” cũng “bất đắc ý”...(11)

Một thoáng Xuân Hương!

“Ôm tiu, gối mõ ngáy khò khò / Gió lọt phòng thiền mát mẻ cô / Then cửa từ bi gài lỏng cánh / Nén hương tế độ đốt đầy lò / Cá khe lắng kệ, đầu hi hóp / Chim núi nghe kinh, cổ gật gù / Nhắn bảo chúng sinh như muốn độ / Sẽ quì, sẽ niệm, sẽ “nam mô!” (“Bỡn Cô Tiểu Ngủ Ngày”). “Trai sao chẳng biết tính con cò / Mày hở hang chi nó mổ cho / Ðã cậy dày mu không khép kín / Cho nên dài mỏ chực ăn to / Thôi về bãi bể cho êm ái / Ðể mặc bên sông nó gật gù / Cò trắng dẫu khôn đành gác mỏ / Trai già chờ lúc lại phơi mu” (“Cò mổ trai”). “Con tạo ghen chi gái má hồng / Mà đem nước đến vỗ tầm vông / Gió lùa cửa cống bèo man mác / Trăng xỏ buồng trai bóng phập phồng / Những sợ anh kình rình dưới rốn / Lại lo chú chuối lẩn bên hông / Quản chi điểm phấn trang hồng nữa / Chỉ biết nơi sâu với chốn nông (“Gái góa than lụt”). “Thu vén giang sơn một cắp tròn / Nghìn thu sương tuyết vẫn không mòn / Biết chăng chỉ có ông Hà bá / Mỉm mép cười thầm với nước non” (“Gái rửa bờ sông”). “Trông mặt mà bắt hình dong” coi chừng sai bét. Nhưng trường hợp Nguyễn Khuyến chắc bất cứ ai ngắm nghía bức chân dung phổ biến (12), ngắm đôi mắt như đang mỉm cười rất hóm hỉnh ấy, cũng đoán người trong ảnh có tính thích khôi hài, và đoán như thế là đúng phóc. Ðại trí thức, quan lớn, mà thơ “bỡn cô tiểu ngủ ngày” v.v. tỉnh bơ. Hoan hô nhà nho dân tộc!

Đĩ cầu Nôm

“Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ / Trời sinh ra cũng để mà chơi / Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời / Chơi thủng trống, long dùi âu mới thích / Ðĩ bao tử càng chơi càng lịch / Tha hồ cho khúc khích chị em cười / Người ba đấng của ba loài / Nếu những như ai thì đĩ mốc / Ðĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc / Khá khen thay làm đĩ có tông / Khắp giang hồ chẳng chốn nào không / Suốt Nam, Bắc, Tây, Ðông đều biết tiếng / Ðĩ mười phương chơi cho đủ chín / Còn một phương để nhịn lấy chồng / Chém cha cái kiếp đào hồng / Bạn với kẻ anh hùng cho đứng số / Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó / Mai sau ngày giỗ có văn nôm / Cha đời con đĩ cầu Nôm”. Tục truyền “con đĩ cầu Nôm” là cô Tư Hồng.(13) “Đĩ mà có (...) có (...) có (...) có (...)”, trách sao cụ Tam Nguyên chẳng cao hứng “khá khen”. Bụng đầy chữ nho, nhưng cụ xổ nôm thì “con đĩ” nào cũng chỉ có nước bưng tai!


Viết năm 2012
Sửa tháng 6-2018





______________
(1) Theo
Nguyễn Khuyến - tác phẩm, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh, nxb. Khoa Học Xã Hội, 1984.
(2) Xuân Diệu,
Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, nxb. Văn Học, 1987.
(3)
Nguyễn Khuyến - tác phẩm: “Năm 1843, ông thân sinh Nguyễn Khuyến mới đưa vợ con từ quê ngoại Hoàng Xá về xứ Vườn Bùi (thuộc làng Vị Hạ) (...) Kể từ đó cho đến khi Nguyễn Khuyến cáo quan về (1884), nhà ông ở đấy đã bốn mươi năm có lẻ...”. “Xứ” nhỏ hơn làng, có phải xứ là xóm?
(4) Ôn công: Tư Mã Quang, khi về ở ẩn ưa uống rượu giải sầu. Lỗ hầu: Lỗ Bình công, người Mạnh Tử muốn gặp để giúp mà không gặp được.
(5) NK thọ 75 tuổi. Xưa kia ta hay nói tăng tuổi thọ?
(6) Tạp chí
Tri Tân (1941-1945), nxb. Hội Nhà Văn, 1999.
(7) Xem “Có thần và thần” và “Oai như gái Việt” của TT.
(8) Ngồi giữa chỗ người cười nói thì ngây như gỗ / Ban đêm leo tường lại nhanh như khỉ.
(9) Thơ Hồ Xuân Hương, bài “Vịnh cái quạt”: “Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày”.
(10) Câu chót trong bài “Ðời đáng chán” của Tản Ðà.
(11) Xem bài “Tống biệt” của Vương Duy.
(12) Bức chân dung trong đó NK tay cầm chén rượu.
(13)
Nguyễn Khuyến - tác phẩm: “Tên thật là Trần Thị Lan quê (...) lấy một khách buôn giàu là chú Hồng. Tên này chết (...) lấy tên cố đạo phá giới là Croibier Hugust (...) Nhờ uy thế chồng, Tư Hồng được thầu phá nốt những mảng tường thành Hà Nội lấy gạch xây nhà cho thuê (...) trở nên giàu có. Nhân Trung kỳ có lụt, Tư Hồng buôn gạo chở lậu thuế vào bán, bị bắt, liền nói dối là đem phát chẩn. Do đó thị không những không bị tội, mà còn được thực dân đề nghị triều Nguyễn phong cho thị hàm “Tứ phẩm cung nhân”, và cho cả bố thị hàm “Hàn lâm thị độc”. Tư Hồng về làng ăn khao linh đình, có người mừng đôi câu đối: “Một đạo sắc phong hàm cụ lớn / Trăm năm danh giá của bà to””.