Về tình với nghĩa, Vũ Tú Nam có lần bàn rất xác đáng.(1)

Chỉ tình nghĩa là đã đủ để vợ chồng ăn đời ở kiếp với nhau rồi.

Nhưng không chỉ thế, trong văn hóa ta cái quan hệ vợ chồng nó lại còn có thêm một kích thước tâm linh nữa: “Vợ chồng là duyên số (hay duyên nợ)”.

Tình nghĩa và duyên nợ là ràng buộc tự giác. Ngoài ra, vốn phong tục Việt Nam còn cố ý làm cho việc ly dị rất khó khăn. Nhờ đó, ông bà tổ tiên hễ lấy nhau là bên nhau đến răng long đầu bạc.

Trong văn hóa Tây phương quan hệ vợ chồng vốn đã lỏng lẻo, bây giờ thì đến mức... mơ hồ, đến gần như không gì hơn là một sự kiện pháp lý. Thề thề thốt thốt trịnh trịnh trọng trọng, áo áo váy váy khăn khăn, bánh bánh, trăng trăng mật mật, để rồi bỏ nhau dễ như không!

Các cụ ta tự giác và được cộng đồng giúp ở bền với nhau như thế, không phải là sống không vui đâu.

Chính những kẻ lấy bỏ lấy bỏ xoành xoạch kia mới kinh nghiệm ê chề đến nỗi lắm kẻ rốt cục phải chừa ở với đồng loại mà đi tìm an ủi nơi chó và mèo!

Là nói chuyện... văn hóa sử mà thôi, chứ cứ cái đà “tiến” này chẳng bao lâu nữa người Việt Nam cũng sẽ yêu chó như Tây.

(Thu Tứ)

(1) Xem “Tình, nghĩa, yêu, thương” của Vũ Tú Nam.



Phạm Ngọc Khôi, “Tình, nghĩa, duyên, nợ”



Người Việt Nam là một dân tộc có đời sống tình cảm dồi dào và tế nhị. Chữ “tình” lấy từ gốc Trung Hoa, được người Việt sử dụng theo một nghĩa rất rộng rãi (...)

Chữ tình của người Việt được gắn liền với chữ nghĩa (...)

tình nghĩa (...) gắn với duyên và nợ. Duyên là mối dây tiền định khiến con người ràng buộc nhau trong quan hệ tình nghĩa (...)


(Trích Phạm Ngọc Khôi, “Sự phong phú tình cảm của ngôn ngữ Việt Nam”, tạp chí
Thế Kỷ 21, Mỹ, 8-1995. Nhan đề phần trích tạm đặt.)