Tổng hợp, “Hoa mai ở Việt Nam” (2)




Theo trang vi.wikipedia.org:

Ở Việt Nam, mai vàng là một loài cây cảnh rất phổ biến ở từ miền Trung trở vào. Nó được trồng rộng rãi trong vườn nhà, làm cây cảnh trồng chậu, bonsai. Nhưng sử dụng nhiều nhất vẫn là vào dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền vì đây là một loài hoa chưng tết chủ đạo. Cây mai ngày tết được xem như là vật mang lại may mắn cho năm mới nên người ta rất kị nếu chưng cành mai mà đúng mùng một không nở hoặc héo rũ.

Việc miền Bắc chơi đào, miền Nam chơi mai trong dịp Tết được giải thích là sau khi mở rộng bờ cõi về phương nam vốn có khí hậu nóng hơn không thích hợp với việc trồng đào, mỗi khi Tết đến, những người đi mở đất nhớ đến cành đào ngoài Bắc nhưng không thể có được đã chọn mai (...) để thay thế.

Tại Việt Nam loài mai vàng phổ biến nhất là mai vàng năm cánh (...) Loài này (...) nhiều nhất trong những khu rừng thuộc dãy Trường Sơn và các tỉnh từ Quảng Nam cho tới Khánh Hòa (...)

Loài mai vàng (...) có từ 5 đến 9 cánh, song đôi khi lên đến 12-18 cánh, gọi là “mai núi” (...) Ở Tây Nguyên và Campuchia, mai núi phân bố khá rộng khắp.

Ngoài ra, còn có loài mai rừng với thân màu nâu, lá to xanh bóng, có răng cưa ở viền lá, hoa vàng mọc thành chùm theo dạng chủy nên được gọi là “mai chủy”.

Một loài mai vàng khác mọc ở triền cát, ở những khu rừng ven biển được gọi là “mai động”. Loài mai này có thân suông, tròn, hoa trổ chi chít trên cành. Nếu chúng có hoa với năm cánh nhỏ thì gọi là “mai sẻ”. Mai động hay mai sẻ phân bố rải rác ở các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình, Quảng Trị trở vào miền Nam, cho tới tận Đồng Nai và Tây Ninh...

Xét về góc độ sai hoa, ngoài mai sẻ, còn phải nhắc đến “mai chùm gởi”. Loài này có thân cứng, trên cành mọc lên những khối u, chung quanh khối u đâm ra rất nhiều tược non và từ đó nụ hoa mọc ra khá dầy, hoa nở san sát vào nhau tạo thành bó. Người ta còn gọi loài này là “mai tỳ bà” hay “mai vương”.

Thông thường, mai vàng có mùi hương rất khó nhận ra, song ở Việt Nam có loài mai vàng năm cánh hương thơm đậm hơn những loài mai khác nên được gọi là “mai hương”. Nó còn tên khác là “mai thơm” (thường được trồng ở Bến Tre) hay “mai ngự” (mọc khá nhiều ở Huế).

Riêng loài mai có cánh hoa lớn hơn kích cỡ bình thường được gọi là “mai châu” (đọc trại từ “trâu” thành “châu”). Loài có nụ hoa nhỏ, cánh dài và nhọn, được gọi là “mai cánh nhọn”.

Có loài mai vàng 5 cánh bình thường, nhưng cành nhánh mềm mại, rũ xuống như cây liễu nên được gọi là “mai liễu”.

Ở khu rừng Cà Ná có loài cây mai thân nhỏ èo uột, cành rất giòn, lá hình bầu dục, trơn và có răng cưa mịn gọi là “mai rừng Cà Ná”.

Ngoài ra, còn có loài mai thân rất nặng (gấp rưỡi thân cây mai bình thường) gọi là “mai đá” hay “mai Vĩnh Hảo”. Loài này thân cứng, cành giòn, lá nhỏ, hoa to và phẳng, lâu tàn.

Mai tứ quý

Là một loại hoa mai vàng nhưng sau khi rụng cánh hoa còn lại đài hoa đỏ và hạt xanh (khi chín hạt sẽ chuyển thành màu đen), chính vì vậy loài mai này còn có tên là “Nhị độ mai” tức “mai nở hai lần” (...)

Mai vàng nhiều cánh

Là loại mai vàng có nhiều cánh do lai tạo hoặc chọn lọc tự nhiên, chọn giống cải tạo dần. Mai nhiều cánh ở Việt Nam gồm có: Mai giảo Thủ Đức (12 cánh thẳng, 2 tầng cánh); mai 12 cánh Bến Tre (loại hoa chùm, cánh hoa lớn hơn mai giảo Thủ Đức); mai 18 cánh Bến Tranh (3 tầng cánh, cánh hoa hơi nhỏ); mai 12-14 cánh Tư Giỏi (3 tầng cánh); mai Cửu Long 24 cánh (3 tầng cánh); mai cúc Thủ Đức (24 cánh, 3 tầng cánh); mai BB hay mai Ba Bi (24-32 cánh, 3 tầng cánh), rất giống mai cúc Thủ Đức nhưng nhiều cánh và hoa to hơn; mai 24 cánh chín Đợi (hoa vàng rất to, nở thẳng); mai 48 cánh Gò Đen (5-6 tầng cánh); mai 120-150 cánh Bến Tre (rất nhiều tầng cánh, giống như cúc Mâm xôi, nở tròn, to đẹp).

Mai chiếu thủy

Là loại mai có hoa rất nhỏ, màu trắng, thường mọc ở các vách đá chỗ nước hay đem trồng ở hòn non bộ. Hoa có mùi thơm nhẹ, cây và cành được uốn theo nhiều kiểu dáng đẹp mắt.

Bạch mai

Hay còn gọi là hoa mai trắng. Hoa thường có 5 cánh nhưng khác với họ hoàng mai ở chỗ khi hoa mới nở có màu đỏ hồng, sau chuyển sang màu trắng, có mùi thơm nhẹ. Loài hoa này có nhiều ở miền Trung nước ta.

Theo Ðông Hồ, “Cảnh vật Hà Tiên” (1930), trong
Du ký Việt Nam (bài đăng trên tạp chí Nam Phong 1917-1934, nhiều tác giả, Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm), nxb. Trẻ, VN, 2007, tập I:

Hoa mai là một thứ danh hoa thường ở chốn núi non tịch mịch (...) có hai thứ: huỳnh mai và bạch mai.

Huỳnh mai màu vàng lợt có sáu cánh, nhị vàng; cây thường ốm và cao, lá mỏng. Cánh hoa mỏng mảnh nhưng không thơm tho chi cả.

Bạch mai mới thực là thơm đẹp lạ thường. Người ta dùng bạch mai phơi khô để ướp trà. Màu hoa trắng như tuyết, nhị vàng, hoa trông tương tự như hoa mù u, cho đến nhánh lá đều giống. Hoa mù u (...) thiếu vẻ tinh thần, là không có cái u hương thanh vị bằng hoa mai (...)

Mai nở về mùa đông (...) có khi qua xuân mà vẫn còn nhiều gốc nở muộn (...)