Về việc cư dân Việt tộc ở Giang Nam và Lĩnh Nam bị người Tàu đồng hóa, bây giờ đã biết hàng nghìn năm sau khi mất đất những người anh em của chúng ta mới chịu hòa hẳn vào văn hóa Trung Quốc.

Vậy cái việc đồng hóa mà Ðào Duy Anh nói đến dưới đây nên hiểu cách tương đối thôi. Nghĩa là: một mặt, do người Tàu kéo xuống ở đông đảo, lộn lạo, lấy vợ lấy chồng người bản xứ, chẳng bao lâu dòng giống Việt tộc ở Quảng Ðông, Quảng Tây nói chung đã mất đi ý chí giành lại độc lập; mặt khác, văn hóa Việt tộc vẫn tiếp tục tồn tại song song với văn hóa của kẻ thắng trận trong một thời gian rất dài sau đó...

(Thu Tứ)



Đào Duy Anh, “Nước Nam Việt”



Nam Việt là nhóm Bách Việt ở phía nam đất Mân Việt, trong tỉnh Quảng Ðông ngày nay, trung tâm điểm là Phiên Ngung. Nước ấy thành lập từ khi nào? Sách Trang Tử có nói đến Nam Việt, lại nói đến vua nước ấy là Kiến Ðức, nhưng xét ra Trang Tử đã mất từ khoảng năm -275, mà Kiến Ðức là cháu năm đời của Triệu Ðà, năm -111 mới bị nhà Hán diệt, thì thấy rằng cái đoạn sách Trang Tử nói về Nam Việt đó là thuộc về phần ngụy thư. Sách Lễ ký cũng có chép đến tên Nam Việt, nhưng sách ấy là do người thời Ðông Hán làm, một phần sao tập sách xưa, một phần ngụy tạo, chúng ta cũng không thể căn cứ vào đó mà nói rằng nước Nam Việt có tự thời Chu.(1)

Khi quân Tần đến thì những nhóm Việt tộc ở miền này còn sống thành những bộ lạc lẻ tẻ chứ chưa có tổ chức nhà nước như hai nhóm trên (tức Đông Việt và Mân Việt - GN). Ðến khi Triệu Ðà lập quốc thì mới thấy xuất hiện cái tên Nam Việt là một nước.

(...) sau những cuộc thắng lợi đầu tiên (...) quân Tần gặp nhiều khó khăn, nhất là vì không có đường vận lương để đi sâu vào nữa. Một mặt quân Tần tìm cách để tiến nữa về miền nam, một mặt họ kinh dinh những miền đã chiếm được (...) họ chia đất chiếm được ở miền Quảng Ðông và Quảng Tây, đặt ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng. Ðặt xong quận huyện mới, nhà Tần sai Triệu Ðà, năm -214, đem những người tù bị đầy xuống giữ đất Việt, cho ở lộn lạo với người Việt tộc (...) cử Triệu Ðà làm huyện lệnh huyện Long Xuyên trong quận Nam Hải (...)

(...) Sau khi nhà Tần bị diệt, Ðà đánh lấy cả Quế Lâm và Tượng quận, tự lập làm Nam Việt vũ vương, thế là Nam Việt bắt đầu thành nước.

(...) Năm -112, vua nhà Hán hạ lệnh (...) đánh Nam Việt (...) Mùa đông năm sau (...) nước Nam Việt bị nhà Hán chinh phục.

Ðối với Nam Việt, nhà Hán không phải dùng chính sách dời dân như đối với các nước Ðông Việt và Mân Việt, vì từ khi quân Tần chinh phục (...) người Việt tộc đã bị đồng hóa theo Hán tộc khá sâu. Với cuộc chinh phục của quân Hán, sự đồng hóa của người Việt tộc ở Nam Việt lại sẽ diễn hành mau chóng hơn nữa. Thế là cả ba nhóm Ðông Việt, Mân Việt và Nam Việt đến thời Tây Hán đã mất hẳn.


(Ðào Duy Anh,
Lịch sử cổ đại Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, 2005, tr. 238-241) (Sách này tập hợp ba tác phẩm khác nhau của Đào Duy Anh: Cổ sử Việt Nam (1957), Lịch sử cổ đại Việt Nam (1957), Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam (1957). Nhan đề phần trích do người chọn tạm đặt.)


Chú thích của ĐDA:
(1) L. Aurousseau trong bài “Cuộc chinh phục đầu tiên” (...) cho rằng nước Nam Việt có từ xưa lắm là chỉ bằng vào ngụy thư mà đoán.





__________
Chỗ nào nguyên văn viết “năm xxx tr. Cng.” (tức trước Công nguyên), thì chúng tôi sửa lại thành “năm –xxx”. (GN)