Nguyễn Hiến Lê, “Dịch Đạo đức kinh (1.4)”




道沖, 而用之或不盈, 淵兮, 似萬物之宗.

挫其銳, 解其紛, 和其光, 同其塵; 湛兮似或存.

吾不知誰之子, 象帝之先.

*

Đạo xung, nhi dụng chi hoặc bất doanh, uyên hề tự vạn vật chi tôn.

Toả kì nhuệ, giải kì phân, hoà kì quang, đồng kì trần; trạm hề tự hoặc tồn.

Ngô bất tri thuỳ chi tử, tượng đế chi tiên.

*

Đạo, bản thể thì hư không mà tác dụng thì cơ hồ vô cùng, nó uyên áo mà tựa như làm chủ tể vạn vật.

Nó không để lộ tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục; nó sâu kín [không hiện] mà dường như trường tồn.

Ta không biết nó là con ai; có lẽ nó có trước thượng đế.


*

Liou Kia-hway cho rằng trong câu nhì, chữ nhuệ tượng trưng sự trác tuyệt, siêu phàm, chữ phân tượng trưng sự xung đột, chữ quang tượng trưng đức tốt, chữ trần tượng trưng tật xấu.

Có nhà lại bảo “giải kì phân” là giải phóng óc nhị nguyên, phân chia sự vật. Nhà khác giảng là “lấy sự giản phác chống sự phiền phức”.

“Hòa kì quang” có người hiểu là đem ánh sáng của mình hòa với những ánh sáng khác, tức không tự tôn tự đại.

Chữ “trạm” cũng trong câu hai có hai nghĩa: sâu kín, trong lặng. Chúng tôi theo Dư Bồi Lâm, dùng theo nghĩa trong Thuyết văn: “trạm, một dã”, một là chìm, không hiện lên.

Chúng ta để ý hai điều này:

- tác giả dùng nhiều chữ nói lửng: hoặc, tự, ngô bất tri, tượng.

- chương này là chương duy nhất nói đến thượng đế, mà có 12 chữ y hệt chương 56 (tức những chữ: toả kì nhuệ, giải kì phân, hoà kì quang, đồng kì trần), khiến chúng tôi nghi ngờ là do người đời sau thêm vô. Đại ý cũng chỉ là nói về thể và dụng của đạo.


(Trích Nguyễn Hiến Lê,
Lão tử và Đạo Đức kinh)