Bài thơ này tiếng Việt có mấy chỗ lạ. Có chỗ đoán được, như “khóm” là xóm, “đó” là đỏ; có chỗ thì chịu, như “tằm ôm lúc nhúc”. Ngoài ra, thơ dùng “trì” Tàu thay vì “ao” Việt...

Thời gian và lịch sử cản trở ta thưởng thức trọn vẹn thơ xưa của ta. Nhưng tuy không được trọn, niềm vui khi đọc thơ vẫn đáng kể. Ta có thể “thấy” được những hình ảnh, “nghe” được những âm thanh, “ngửi” được những mùi hương của buổi chiều nơi cái xóm chài hẻo lánh nào đó chứ. Nhất là hai câu:

“Ðêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu” và

“Dặng dõi cầm ve lầu tịch dương”

rất gợi, sờ sờ bóng dáng, tâm sự người viết nên câu...

(Thu Tứ)



Nguyễn Trãi, “Ðêm thanh nguyệt bạch”



Tằm ôm lúc nhúc thuyền đầu bãi
Hào chất so le khóm cuối làng
Nuớc biếc non xanh thuyền gối bãi
Ðêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu
Thạch lựu hiên còn phun thức đó
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dặng dõi cầm ve lầu tịch dương.(1)


(Trong
Quốc âm thi tập, không có tên, tên đây là do người chọn tạm đặt.)







_____________
(1) Khóm: xóm; đó: đỏ?; trì: ao; tiễn: đưa (theo Xuân Diệu, trong
Ba thi hào dân tộc, nxb. Thanh Niên, VN, 2000)