Thu Tứ, “Tương lai từ vựng tiếng Việt”




Phạm Quỳnh chia từ tiếng Việt thành hai loại: loại cụ tượng và loại trừu tượng. Loại từ thứ nhất có nội dung liên quan đến “thế giới hữu hình do giác quan có thể cảm được”. Loại từ thứ hai có nội dung liên quan đến “những nghĩa lý thuộc về tâm trí phải suy xét”.(1) Chia xong, ông bảo tiếng ta giàu từ cụ tượng mà nghèo từ trừu tượng. Ðã gần tám thập kỷ trôi qua mà không thấy ai bày tỏ bất đồng với ý kiến ấy. Thiết nghĩ nó có chỗ sai.

Vấn đề ở chỗ, Phạm Quỳnh chỉ thấy một nhóm từ trừu tượng, tức những từ mà nội dung là “nghĩa lý (...) phải suy xét”, chẳng hạn, lịch sử, địa lý, chuyên chế, đế quốc, giai cấp, chủ nghĩa, chính trị, kinh tế (toàn vay của tiếng Tàu!).

Nhóm từ trừu tượng vừa nói trên xuất phát từ hoạt động của trí óc. Nhưng con người ta ngoài trí óc còn có tâm hồn. Không phải chỉ sản phẩm của trí óc mới trừu tượng. Sản phẩm của tâm hồn cũng đâu có “hình”, giác quan nào mà cảm được nó, nó trừu tượng chẳng kém mảy may!

Những từ trừu tượng xuất phát từ hoạt động của tâm hồn chẳng hạn: áy náy, băn khoăn, bần thần, bâng khuâng, bẽ bàng, bịn rịn, bồi hồi, bồn chồn, bủn rủn, bứt rứt, canh cánh, chống chếnh, dằn vặt, đau đáu, e ấp, hằn học, hụt hẫng, hững hờ, khao khát, lâng lâng, mê mẩn, ngại ngùng, ngẩn ngơ, ngỡ ngàng, phơi phới, rạo rực, se sắt, thẫn thờ, thổn thức, xao xuyến, xốn xang. Ðây người Việt gần như không vay mượn của ai cả, vì tâm hồn đặc biệt đa cảm của ta nó làm tiếng Việt đã sẵn giàu có những từ ấy lắm rồi.

Vậy có hai nhóm từ trừu tượng. Nhóm “Phạm Quỳnh” gồm những từ chỉ khái niệm. Nhóm nữa gồm những từ chỉ cảm xúc hay tâm trạng.

Tiếng Việt quả rất nghèo từ trừu tượng khái niệm. Nhưng nó có lẽ giàu từ trừu tượng cảm xúc nhất thế giới.

*

Phạm Quỳnh đúng khi bảo tiếng Việt đặc biệt giàu từ cụ tượng. Nhưng từ cụ tượng có hai nhóm. Tiếng Việt chỉ đặc biệt giàu về một nhóm mà thôi.

Hai nhóm từ cụ tượng là:

Nhóm “vô cảm”: gồm những từ không chứa cảm giác, cảm xúc. Ví dụ: trời, đất, núi, rừng, sông, biển, ao, chuôm, cây, cỏ, chim, cá, nai, gà, lợn, rìu, củi, nồi, niêu, lúa, khoai, tay, chân, râu, tóc, trắng, đen, tắm, ngồi, uống, luộc, nướng v.v.(2)

Nhóm “hữu cảm”: gồm những từ có chứa cảm giác hoặc cảm xúc. Ví dụ: nhấp nhô (thị giác), lả lay (thị giác), tí tách (thính giác), bì bõm (thính giác), ngào ngạt (khứu giác), thoang thoảng (khứu giác), trơn tru (xúc giác), ram ráp (xúc giác), chát xít (vị giác), chua lè (vị giác), nao nao (cảm xúc), nho nhỏ (cảm xúc), sè sè (cảm xúc), rầu rầu (cảm xúc).(3) Không phải chỉ từ kép mới hữu cảm. Những từ đơn như co, cúi, cuộn, cựa, day, gập, khom, khum, lách, lòn, luồn, nép, oằn, rướn, thót, uẩy, vẹo v.v., chúng cũng đều có chứa thứ cảm giác nhất định gì đấy chứ không phải “rỗng” như nồi, niêu, nón!

Tiếng Việt không giàu từ cụ tượng vô cảm, nhưng hết sức phong phú từ cụ tượng hữu cảm. Tại sao?

Từ cụ tượng vô cảm chẳng qua là tiếng đặt ra để gọi tên. Phải đi nhiều, thấy nhiều vật, nhiều hiện tượng, phải chế tạo ra nhiều vật mới, làm xẩy ra nhiều hiện tượng mới, thì mới giàu tên gọi. Mỗi cái gì đó mới sẽ làm sinh ra không chỉ một từ gọi tên nó, mà còn một số từ nữa gọi tên những đặc điểm, những lối hoạt động độc đáo của nó. Người Việt chúng ta đi được bao nhiêu, chế được bao nhiêu, làm xẩy ra được bao nhiêu, mà đòi tiếng mình giàu tên gọi bằng, chẳng hạn, tiếng Anh.

Mặt khác, tuy “thế giới ta thấy” không phong phú vật và hiện tượng bằng “thế giới Tây thấy”, do người Việt có lối tiếp xúc với thực tại bằng tất cả giác quan và tất cả tâm hồn, bất cứ cái gì trong cái thế giới tương đối nghèo nàn của ta cũng có thể có thật nhiều phong cách.(4) Mỗi phong cách làm nẩy sinh một từ cụ tượng hữu cảm, nhờ đó về loại từ này tiếng Việt không chỉ giàu hơn hẳn tiếng Anh mà rất có thể giàu hơn hẳn bất cứ thứ tiếng nói nào trên thế giới!

*

Tiếng Việt đặc biệt giàu từ trừu tượng cảm xúc và từ cụ tượng hữu cảm.

Thế thì hẳn các thứ tiếng khác đua nhau mượn những từ ấy về để làm giàu cho mình? Không đâu. Chẳng có tiếng nào bổ sấp bổ ngửa chạy đi vay từ của tiếng Việt cả, bất kể loại từ gì.

Thời xưa, người Tàu đô hộ nước ta hơn nghìn năm, bắt dân ta lên rừng săn tê giác xuống biển mò trai ngọc, cướp hằng hà sa số sản vật quý nhưng chắc không động mấy đến kho từ vựng của tiếng ta. Thời gần đây, người Pháp chiếm nước Việt Nam gần trăm năm, cũng bắt dân ta khai thác đủ thứ tài nguyên để họ chở về “mẫu quốc”. Khi giặc bại trận phải rút khỏi “tử quốc”, chữ Việt cũng chưa đi vào tiếng Pháp. Thời rất gần đây, người Mỹ đổ bộ hàng nửa triệu lính lên một nửa nước ta hàng non chục năm trời. Khi họ về nước, chữ Việt coi như vẫn còn hoàn toàn đứng ngoài tiếng Anh.

Tại sao tiếng Tàu, tiếng Pháp, tiếng Anh không chịu vay từ của tiếng Việt?

Trước hết, đó là do bên giàu mạnh không bao giờ đi vay văn hóa của bên nghèo yếu. Vay, là khi thấy cần. Họ hơn ta về vật chất thì họ đâu cần phải học tiếng ta làm gì, vì khi đôi bên giao thiệp ta sẽ phải nói thứ tiếng nói của họ. Vay, cũng là khi thấy quý. Tàu, Pháp, Mỹ không thấy tiếng Việt là quý, bởi cái hơn về vật chất làm họ thấy họ cũng hơn ta luôn về tinh thần! Thứ hai, ngay cả sau khi nước Việt Nam trở nên giàu mạnh, tinh hoa tiếng Việt (nếu chưa mất!) cũng vẫn không “xuất khẩu” đi đâu được. Nguyên cớ là chính cái đặc tính hữu cảm độc đáo của nó: từ mà hễ chứa cảm giác hay cảm xúc thì không thể dịch ra tiếng nước ngoài. Cố dịch, chỉ ra những cụm từ tiếng gì đó thuyết giảng rất lòng thòng về cái “bất khả thuyết” chứa trong một từ tiếng Việt.

Khắp mặt đất bao la không một tri kỷ, cô đơn lắm có phải không, hỡi những nhấp nhô, róc rách, ngạt ngào, gây gấy, chua lè, nao nao, nho nhỏ, đìu hiu, man mác, se sắt, bẽ bàng, chống chếnh, xao xuyến, xốn xang, ngỡ ngàng, ngẩn ngơ, buồn tênh, bịn rịn v.v. ơi!

*

Cái phần độc đáo trong kho từ vựng tiếng Việt chắc chắn sẽ mãi mãi cô đơn. Được thế đã mừng!

Mãi mãi cô đơn tức mãi mãi còn. Nhưng căn cứ vào diễn biến văn hóa, e đến lúc nào đó những từ chứa cảm sẽ rời kho tiếng Việt sống mà đi vào nghĩa trang Tử Ngữ!

Tại sao? Văn hóa Việt Nam và văn hóa Tây phương vốn phát triển theo hai hướng trái ngược. Văn hóa ta gần như thuần cảm. Ðối với tự nhiên, tổ tiên ta tập trung cảm thụ chứ không thắc mắc, nghĩ ngợi, tìm cách chinh phục. Hướng phát triển này không đưa đến thành công vật chất lớn lao. Văn hóa Tây gần như thuần nghĩ. Nghĩ ngợi suốt bao nhiêu thế hệ, rút cuộc người Tây phương nghĩ ra một cách nghĩ đặc biệt thích hợp cho việc chinh phục tự nhiên, là khoa học. Nhờ khoa học, họ trở nên cực mạnh và cực giàu. Để sống còn và để đua giàu, ta cũng phải theo khoa học.

Xưa thiên nặng về cảm, nên ta mới nói thứ tiếng cảm. Nay ta bắt đầu cố nghĩ nhiều như Tây, chẳng bao lâu nữa sẽ nghĩ nhiều y như Tây, nên tiếng Việt chắc chắn rồi sẽ hóa thành một thứ tiếng nghĩ. Tiếng Việt tương lai sẽ hết sức dễ dịch ra tiếng Tây, vì nó chính sẽ là một bản dịch của tiếng Tây!

*

Lấy luật tự nhiên mà xét, biết bản sắc từ vựng tiếng Việt rồi sẽ mất.

Biết thế, rồi lại muốn biết thêm cụ thể nó mất thế nào. Thì đây.

Xưa kia, môi trường sống của người Việt Nam gần như bất biến từ đời này sang đời khác. Độ bền ấy giúp tổ tiên ta có thật nhiều thời gian để cảm giác và cảm xúc. Bây giờ, môi trường sống đang thay đổi rất nhanh chóng. Tất cả mọi thứ xung quanh cứ liên tục biến hóa vù vù, làm sao ta cảm và cảm đến nơi đến chốn cho kịp?! Kịp hay không lại còn do cái lịch sinh hoạt. Người nông dân cổ thời tuy lao động vất vả nhưng thực ra đã ít bận rộn hơn người thị dân hiện đại. Đời sống mới bận rộn vô cùng, ai nấy hễ không túi bụi làm việc thì phải tới tấp giải trí, để cho đủ thư giãn mà trở lại túi bụi làm việc! Thì giờ đâu nữa để ngồi vận dụng giác quan, tâm hồn, mà cảm môi trường cho sâu và lắng nghe tâm trạng chính mình cho rõ!

Chưa hết. Môi trường đổi nhanh thoăn thoắt cộng thời gian “rảnh” quá hiếm, mới chỉ là một trở ngại. Cái trở ngại thứ hai nó nằm ngay trong chính con người. Đã nói người Việt Nam đang chuyển từ chủ cảm sang chủ nghĩ. Nghĩa là ta đang bớt vận động tâm hồn. Tâm hồn cũng như cơ bắp, hễ ít vận động thì sẽ teo tóp. Lấy một cái tâm hồn teo tóp, yếu ớt, để cảm một cái thực tại biến hóa như điên, mà có kết quả đáng nói được sao!

Hai cái trở ngại to quá. Trách nào xem lại, hầu hết những từ chứa cảm đều đã có mặt trong tiếng Việt từ đời... tám hoánh, chứ không phải mới được đặt ra gần đây. Nhất là nhóm trừu tượng cảm xúc, hình như lâu lắm rồi không thêm từ mới.

Tuy coi như đã ngưng sáng tạo những từ ấy, nhưng có lẽ trong một thời gian khá dài, đa số người Việt sẽ vẫn tiếp tục dùng chúng trong lời nói và lời viết. Dùng cách hững hờ, mỗi ngày mỗi thêm hững hờ, thêm khác cách dùng đầy rung động của tiền nhân. Cứ thế đến, chẳng hạn, đầu thế kỷ 22. “Có người (...) xa nghe (...) nức tiếng (...) tìm chơi”(5), mới hay những đìu hiu, lãng đãng, chống chếnh, khắc khoải, phơi phới, xốn xang v.v. đã rơi khỏi cửa miệng cháu chắt chúng ta tự bao giờ!

*

Một mai tiếng Việt thôi “cảm”, thì có sao đâu?

Nó sẽ rụng mất hết những gập ghềnh, phất phơ, đìu hiu, man mác, lâng lâng, xao xuyến v.v. Bù lại, nó sẽ mọc thêm vô số từ gọi tên vật nọ vật kia, khái niệm nọ khái niệm kia. Cứ tình hình khoa học kỹ thuật phát triển nhanh hơn chớp, nó sẽ được bù dư, chứ có phải chịu lỗ lã gì đâu mà rên rẩm?

Bù làm sao được mà đòi bù! Khi dân tộc Việt Nam còn nói thứ tiếng cảm độc đáo của mình, họ là những con người cảm thụ thực tại đến nơi đến chốn. Họ không trông được tận mắt bao nhiêu thứ, nhưng trông những thứ quanh mình họ thấy được thật nhiều và cảm thấy được thật nhiều. Thực tại cũng là chính con người và người Việt Nam lắng nghe lòng mình cũng thật sâu sắc. Họ nghèo, nhưng đời sống tinh thần của họ lại hết sức giàu có. Lấy nguyên lý và máy móc chực bù cho cảm và cảm, mà nghe được sao!

Thực ra, khi tiếng Việt hóa thành một bản dịch của tiếng Tây thì tâm hồn Việt đã teo nhỏ lắm rồi. Không còn bao nhiêu tâm hồn nữa thì đâu có biết trân trọng những gập ghềnh, phất phơ, đìu hiu, man mác, lâng lâng, xao xuyến v.v. nữa mà đòi ai bắt đền!

Người nằng nặc đòi đền của chính là người chưa mất của, như kẻ viết bài này. Vẫn ôm lâng lâng, xao xuyến chặt trong tay mà tưởng tượng ngày mất lâng lâng, xao xuyến. Miên man tưởng tượng, rồi nhớ khôn nguôi!


Viết năm 2005, sửa năm 2015
In lần đầu trong
Tìm tòi và suy nghĩ (2005)
In lần thứ hai trong
Cảm nghĩ miên man (2015)







__________
(1) “Quốc học với quốc văn”, tạp chí
Nam Phong, số 164, tháng 7 năm 1931, in lại trong Luận về quốc học, nxb. Đà Nẵng, 1999.
(2) Dĩ nhiên trong số những từ vô cảm đối với ta bây giờ, có thể có một số vốn xưa kia là hữu cảm. Tổ tiên ta có thể đã cảm giác thế nào đó khi gọi chim là “chim”, cá là “cá”.
(3)
Truyện Kiều: “Nao nao dòng nước uốn quanh, nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc sang. Sè sè nấm đất bên đàng, rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”.
(4) Xem bài “Màu hữu cảm trong tiếng Việt” của TT.
(5)
Truyện Kiều, chỗ kể đời Ðạm Tiên: “Có người khách ở viễn phương, xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi. Thuyền tình vừa ghé tới nơi, thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ”.