Từ một tên chung nào đó, sau thời gian dằng dặc, người Việt gọi dòng nước lớn là sông, người Khmer gọi là kông. Khi ta chiếm Nam bộ, nghe chủ trước gọi con sông to nhất trong ấy là Mê Kông, ta không hề biết Kông chính là sông. Rồi có lẽ do Kông là âm nghe rõ hơn, ta đã phiên âm Mê Kông thành Long. Còn Cửu thì do có chín...

Nếu chuyện xảy ra đúng như vừa phỏng đoán, thì lịch sử lại oái oăm: người Việt đã dùng một tiếng gốc Tàu để phiên âm một tiếng cùng gốc Bách Việt với tiếng của mình!

(Thu Tứ)



Nguyễn Linh, “Tạc tiếng nói vào sông núi”



(...) địa danh một mặt mang ngôn ngữ của những dân tộc cụ thể, mặt khác lại gắn chặt với vùng đất mà các dân tộc đó đã ở qua (...) có thể nói (...) địa danh là những từ ngữ, những mẩu ngôn ngữ của một tộc người nhất định đã được tạc vào sông núi (...) nơi (...) họ đã từng cư trú (...)

Loại địa danh có nguồn gốc xa xưa hơn cả là tên sông nước và nhất là tên những con sông lớn (...) sông nước rất quan trọng đối với đời sống con người (...) tên sông nước phát sinh từ rất sớm, có khi từ thời làng mạc xứ sở chưa phân định. Và do đó có thể nó còn cổ hơn tên xã thôn, tên quốc gia nữa.

(...) Dương Tử Giang (...) Tên cổ của sông này là Giang, đời sau từ “giang” mới trở thành danh từ chung chỉ sông (...) Từ “giang” đọc theo âm Hán cổ là “kang”. Cách phát âm này hiện được giữ lại trong các tiếng địa phương Quảng Ðông và Thượng Hải (...) xét theo tự dạng, từ “giang” (...) dùng chữ “công” (trong từ “công nhân”) để phiên âm.

(...) sông Mê Kông (...) Ta gọi là Cửu Long (...) Lào gọi là Nậm Khoỏng (Nậm Không) (...) Campuchia gọi là Mê Kông, Trung Quốc gọi là Khung Giang (...) (Tất cả những tên gọi khác nhau đó) là những dạng tương tự về mặt ngữ âm, do từ một tên gốc là KÔNG (1)

Ngoài (...) Dương Tử Giang và Cửu Long (...) những tên sông khác nằm trong khu vực hai con sông này cũng có nguồn gốc tương tự.(2)

Sự đồng nhất giữa tên những con sông chảy qua (...) Ðông Nam Á (...) chứng minh rằng ngôn ngữ vùng này đã được phát triển liên tục (...) không thấy có sự gián đoạn, hoặc sự thay thế bằng những ngôn ngữ ngoại lai.

(...) chúng ta nghĩ đến một thời kỳ mà những nhóm người sống rải rác trên miền đất Ðông Nam Á và nam Trung Quốc còn nói những phương ngữ gần gũi nhau, trong đó có cả tổ tiên của người Việt (...) đây còn là thời kỳ mà các dân tộc chưa phân hóa rõ rệt


(Nguyễn Linh, “Nước Văn Lang: bờ cõi, tên nước và dân cư”,
Thời đại Hùng Vương (nhiều tác giả), in lần đầu năm 1971, nxb. Văn Học (VN) tái bản năm 2008, tr. 44-47)





__________________
Nhan đề phần trích tạm đặt.
(1) Hoàng Thị Châu, “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Ðông Nam Á qua một vài tên sông”, trong
Thông báo khoa học, phần Ngữ văn, trường Ðại học Tổng hợp, 1966 và “Tên sông ở Việt Nam”, trong tập Ðịa danh học phương Ðông, Mạc-tư-khoa, 1969 (tiếng Nga).
(2) Như trên.